Giadinh.net - Đang vui với niềm vui quan họ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, mới đây, các nghệ nhân quan họ Bắc Ninh lại thể hiện sự bức xúc với những nhận định không đúng của một vài ý kiến về quan họ, được đăng tải trên công luận trong suốt thời gian qua.

Nghệ nhân “đối chất” với nhà nghiên cứu Ngày 14/10/2009, ông Nguyễn Quý Tráng, Trưởng đoàn quan họ Bắc Ninh đưa cho chúng tôi bài viết của các nghệ nhân quan họ (không có người đứng tên) bày tỏ sự bức xúc của mình lên lãnh đạo Sở VH,TT&DL tỉnh Bắc Ninh và Bộ VH,TT&DL. Những đề nghị này không yều cầu phải đính chính hay xin lỗi, mà chỉ nhằm mục đích “không thể để việc tùy tiện trong những nhận định, đánh giá về các di sản văn hóa của Việt Nam đã và sẽ được công nhận là Di sản”. Sự “đề nghị” này của các nghệ nhân nhằm vào những phát ngôn của nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền thuộc Viện Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật Việt Nam trả lời một số tờ báo điện tử khi quan họ vừa được công nhận là Di sản nhân loại. Theo các nghệ nhân, điều này “chắc chắn sẽ gây hiểu nhầm hoặc hiểu sai lệch từ cộng đồng quốc tế, của UNESCO về dân ca quan họ Bắc Ninh”, cũng như khiến “chúng tôi cảm thấy buồn và xúc phạm khi được đọc những dòng nhận định, đánh giá của ông Bùi Trọng Hiền”. Theo bài viết, có 4 nội dung được các nghệ nhân “đối chất” và cho rằng nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền đã võ đoán và hiểu sai lệch về quan họ. Trong bài trả lời phỏng vấn, ông Hiền cho rằng: “Ngày xưa, nếu không phải là làng quan họ kết nghĩa thì họ không bao giờ hát đối đáp với nhau. Những nhóm chơi cuối cùng đó đã chấm dứt từ lâu, con cháu họ đã không còn tiếp nối...”. Điều này được các nghệ nhân giải thích như sau: “Từ những năm 1945, các bậc cha chú, các bậc ông bà chúng tôi không chỉ đi hát với các làng quan họ kết chạ với làng mình mà còn ngao du đi hát đối đáp với nhiều làng quê khác có sinh hoạt quan họ trong vùng. Thực tiễn này đã được các bậc nghiên cứu quan họ lão thành như Hồng Thao, Trần Linh Quý... công nhận và viết trong nhiều công trình đã xuất bản... Và cho dù tục kết chạ gần như không còn, tục kết nghĩa không phổ biến như xưa nhưng chúng tôi vẫn được sống trong một không gian văn hóa quan họ đích thực, chứ không phải “không gian văn hóa quan họ cũng biến mất” như ông Hiền khẳng định”. Vấn đề thứ 2 khiến “người quan họ” bất bình là khi người trả lời phỏng vấn đã nhận định: “Ngày nay, quan họ mà bạn thấy đang diễn ra ở các làng quê Kinh Bắc, kể cả những canh quan họ cổ phục dựng, thực chất chỉ là đóng giả. Bởi quan họ đúng nghĩa không thể có chuyện người trong một làng hát đối đáp với nhau...”. Không những thế, ông Hiền còn khẳng định rằng “Quan họ ngày nay thực sự bị thương mại hóa rất nhiều. Từ thực tế nhiều năm đi điền dã, tôi thấy ở đâu có quan họ là y rằng ở đó có đàn ooc-gan, có thuyền rồng làm bằng tôn, và quan họ ngửa nón xin tiền...”; “Cơ chế kết nghĩa không còn nên người ta hát để diễn, hát để kiếm tiền và cũng chỉ vì để kiếm tiền nên nghệ thuật cũng bị phai nhạt...”. Đây là những nhận định khiến các nghệ nhân cảm thấy bức xúc nhất: “Nhận định này đã và đang xúc phạm đến lòng tự trọng của cộng đồng quan họ. Sao chỉ nhìn vào một vài hiện tượng “quan họ ngửa nón xin tiền” của một vài nhóm trẻ biết hát quan họ ở một kỳ lễ hội để khái quát cho mọi cuộc hát quan họ trong cộng đồng như vậy? Vậy mà ông Hiền lại tự nhận mình là người nghiên cứu quan họ nhiều năm?”... Trên thực tế, tại hầu khắp các làng quan họ gốc, hàng chục câu lạc bộ quan họ sinh hoạt thường kỳ, hàng chục cuộc giao lưu hát quan họ giữa các thôn trong vùng đều hát với niềm say mê và ý thức rất rõ đó là “đặc sản” của vùng quê Kinh Bắc. Những lúc đó đâu có thuyền rồng làm bằng tôn, đâu có đàn ooc-gan? Những đêm sinh hoạt sau một ngày lao động vất vả thì sao có chuyện “hát để xin tiền” được? Nói quan họ bị “thương mại hóa” là phiến diện Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Quý Tráng thừa nhận trong vài năm gần đây một số lễ hội thường có hiện tượng “ngả nón xin tiền” và đó là vấn đề “khiến chúng tôi đau đầu”. Nhưng cần phải phân biệt, không phải việc “ngả nón” nào cũng là để xin tiền. Trước đây, trên sân khấu chèo, khi các cụ trình diễn thường có động tác “thướng” (thực ra là “thưởng”, đọc chệch thành “thướng”) của khán giả, nhất là ở những chiếu chèo đến tận đêm khuya về sáng. Quan họ có sân khấu động nên việc “thướng” là điều khó tránh. Và những lần “thướng” ấy cũng không có nhiều. Ông Tráng nhớ có lần, một cụ già xem hát xong thì lội nước đến chỗ sân khấu để đặt 500 đồng. Trong những trường hợp đó, nếu các liền anh liền chị không đón nhận sẽ bị coi là coi thường khán giả. Nếu ai cũng nhìn vào đó và quy kết là “thương mại”, là “ngả nón xin tiền” thì hơi phiến diện. Những vấn đề này được ông Nguyễn Quý Tráng cho biết, sẽ được gửi đến các tờ báo đã đăng bài phỏng vấn ông Bùi Trọng Hiền để “nói lại cho rõ” và như một lời nhắc nhở để không ai có những phát ngôn thiếu hiểu biết và võ đoán về quan họ Bắc Ninh. Thanh Hà