Cô đỡ thôn, bản đến tận gia đình chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh tại bản Sán Xúi, xã Hừa Ngải, huyện Mường Chà, Điện Biên.

Là một một tỉnh miền núi, giao thông đi lại khó khăn, dân cư sống rải rác trên một địa bàn rộng, nên việc người dân tiếp cận các dịch vụ y tế, nhất là trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em (CSSKBM&TE) còn nhiều hạn chế. Tại tuyến xã, thôn, bản tuy có 96,4% số thôn, bản có nhân viên hoạt động, nhưng với những yếu tố văn hóa đặc thù của người dân tộc, trong khi đó đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản lại chủ yếu là nam giới đảm trách, cho nên việc tiếp xúc, hỗ trợ các bà mẹ khó thực hiện. Được sự hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu quốc gia, từ các dự án như của: Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, Tổ chức Y tế thế giới... tỉnh Điện Biên tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho đội ngũ CSSKBM&TE từ tuyến cơ sở như: đào tạo cấp cứu sản nhi cho nữ hộ sinh, y sĩ sản nhi; tập huấn về chăm sóc sơ sinh thiết yếu... Đáng chú ý tỉnh đã chọn huyện Mường Chà để triển khai thí điểm mô hình cô đỡ thôn, bản.

Kết quả giám sát tại đây cho thấy, công tác CSSKBM&TE nói chung và mô hình cô đỡ thôn, bản nói riêng tại tỉnh Điện Biên đã có những chuyển biến tích cực, phát huy được tính ưu việt của mô hình này. Việc can thiệp, nâng cao chất lượng và sự tiếp cận của cộng đồng trong công tác làm mẹ an toàn tại các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa được nâng lên rõ rệt. Sau hơn một năm đi vào hoạt động, thành công lớn nhất của mô hình này là đã phát hiện, tư vấn chuyển tuyến kịp thời cho tất cả phụ nữ có thai có dấu hiệu nguy hiểm. Do đó, không có trường hợp nào bị tai biến sản khoa và mẹ bị tử vong tại những nơi có các cô đỡ thôn bản. Theo đánh giá của các chuyên gia, mô hình là giải pháp phù hợp trong công tác CSSKSS đối với địa bàn đặc thù miền núi, đi lại khó khăn, khắc phục được tồn tại rào cản về tập tục, tâm lý sinh tại gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên, qua tìm hiểu thực tế thì tính lâu dài, bền vững của mô hình này cần được quan tâm. Bởi ngoài mức hỗ trợ 50 nghìn đồng/tháng từ chương trình, các cô đỡ không nhận được một khoản thu nhập nào khác. Cùng với đó là việc bố trí số lượng cô đỡ thôn, bản ở từng địa bàn, vai trò phối hợp, cung cấp thông tin giữa đội ngũ y tế thôn, bản và cô đỡ cũng chưa có cơ chế cụ thể để phát huy hiệu quả. Việc lựa chọn người đi học cũng rất khó khăn, vì trình độ không đáp ứng được với yêu cầu, cũng như các yếu tố về văn hóa đối với người dân tộc, nhất là nữ giới.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Việt Tiến cũng như đại diện các tổ chức quốc tế khẳng định: Mô hình cô đỡ thôn, bản trong thời gian tới cần được nhân rộng, duy trì ở các vùng, miền khó khăn. Tuy nhiên, để duy trì, nhân rộng và sử dụng lâu dài, đội ngũ cô đỡ thôn, bản cần rà soát chuẩn hóa chương trình, nội dung, tài liệu đào tạo để thống nhất áp dụng trong phạm vi lớn hơn. Đồng thời sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách cho cô đỡ thôn, bản để có thể chính thức công nhận cô đỡ thôn, bản là chức danh cán bộ y tế, giúp họ được hưởng phụ cấp và chế độ đãi ngộ như nhân viên y tế thôn, bản đang được hưởng. Trước mắt, Bộ Y tế sẽ có công văn đề nghị chính quyền các địa phương hỗ trợ thêm kinh phí cho đội ngũ này. Bộ Y tế sẽ phối hợp các bộ, ngành có liên quan xây dựng những chế độ đãi ngộ, chính sách cụ thể cũng như kêu gọi sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế cho đội ngũ này.