Phát triển các dịch vụ xã hội, đặc biệt là mạng lưới y tế là động lực thiết thực với đời sống nhân dân các vùng ven biển và đảo Ảnh: TL Thế kỷ 21 là thế kỷ của biển và đại dương, loài người đang tiến ra biển. Là một quốc gia biển, Việt Nam đang phấn đấu để trở thành một nước mạnh về biển như Nghị quyết của Đảng đã vạch ra. Trong công cuộc chinh phục biển cả đầy khó khăn, con người bao giờ cũng là yếu tố quan trọng, quý giá, quyết định sự thành bại của sự nghiệp làm chủ, khai thác, bảo vệ biển, đảo.

Trong tính toán phát huy các thế mạnh về biển, đảo của Việt Nam gắn với các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các nhà hoạch định chiến lược phát triển biển đảo đã chú ý dành ưu tiên hàng đầu cho phát triển nguồn nhân lực với các chính sách y tế, giáo dục, văn hóa và bảo đảm an sinh xã hội phù hợp , tạo điều kiện để con người phát triển cả về thể chất và trí tuệ, trở thành động lực thúc đẩy sự nghiệp bảo vệ và phát triển vùng biển, đảo theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Việc bảo đảm sức khỏe và an toàn sinh mạng con người trên biển, đảo phải phù hợp với các yêu cầu và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đa dạng: từ cải thiện đời sống (cả vật chất và tinh thần) của nhân dân trên tuyến đảo và vùng ven biển đến phát triển các ngành nghề chuyên môn trong lĩnh vực khai thác, quản lý, sử dụng và bảo vệ biển, đảo; tăng cường khả năng cấp cứu và tìm kiếm cứu nạn trên biển; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường và tranh thủ sự hợp tác quốc tế về biển… Để phát huy hết được những thế mạnh trên, không thể không tính đến vai trò mang tính quyết định của nguồn nhân lực biển đảo. Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu. Vùng ven biển và đảo của Việt Nam có dân cư tập trung khá đông đúc. Năm 2001, tổng số dân 28 tỉnh, thành ven biển khoảng 37.830.600 người, bằng 47,3 % dân số cả nước khi đó; mật độ dân số trung bình là 281 người/km 2 , cao gấp 1,3 lần mật độ trung bình của cả nước. Tuy nhiên, vẫn có sự chênh lệch rất lớn về mật độ dân cư giữa các vùng ven biển và đảo. Đấy là chưa nói đến sự khác biệt về cấu trúc dân cư và chất lượng dân số giữa các vùng này. Những chỉ số về dân cư vùng biển, đảo đều có hai mặt thuận lợi và khó khăn mà người ta phải tính đến khi “lập trình” các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn quan trọng này của đất nước. Để phát triển nguồn nhân lực vùng biển, đảo mà trước mắt là cải thiện đời sống con người, từng bước nâng cao chất lượng dân số, cần tập trung phát triển các dịch vụ xã hội, đặc biệt là mạng lưới y tế. Hệ thống dịch vụ y tế nghèo nàn là trở ngại rất lớn đối với việc phát triển kinh tế biển, đảo theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có thể nói, đã đến lúc đặt ra yêu cầu cấp bách cần được quan tâm về việc hình thành và phát triển mạng lưới y tế biển, đảo trong toàn quốc, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho lực lượng lao động và dân cư biển, đảo. Với ý nghĩa đó, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng cư dân đang sinh sống và làm việc ở vùng ven biển và trên biển, đảo là công việc có ý nghĩa hàng đầu trong toàn bộ chiến lược phát triển biển, đảo. Thời gian vừa qua, do nhiều lý do, chúng ta thực sự chưa quan tâm đúng mức đến y tế biển, đảo. Mạng lưới y tế biển, đảo còn nhỏ, yếu, rời rạc, còn thiếu cả về con người và vật tư tối thiểu cho y tế biển, đảo. Các nguy cơ đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của cư dân trên biển, đảo còn rất phổ biến; bệnh nghề nghiệp đối với các hoạt động kinh tế trên biển, đảo như thủy sản, giao thông vận tải, dầu khí chưa được nghiên cứu có bài bản, nên còn hạn chế trong công tác phòng chống các bệnh nghề nghiệp, làm ảnh hưởng đáng kể tới năng suất lao động và hiệu quả các các nghành kinh tế chủ yếu trên biển, đảo. Môi trường biển đang từng ngày bị đe dọa; biển bị ô nhiễm với các mức độ khác nhau do các hoạt động kinh tế biển và điều kiện sinh sống còn quá khó khăn… đang từng ngày làm ô nhiễm và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống và sức khỏe của con người. Tất cả những vấn đề đó đặt ra cho công tác y tế biển, đảo những nhiệm vụ hết sức nặng nề. Đã đến lúc phải đặt công tác y tế biển, đảo trong chiến lược phát triển biển của đất nước. Điều cơ bản, cần thiết phải được xúc tiến ngay là cần có những nghiên cứu cơ bản về tình hình sức khỏe, các bệnh nghề nghiệp thường phát sinh trên biển, đảo; qui hoạch chi tiết việc xây dựng mạng lưới y tế cơ sở trên biển, đảo và cả trên các phương tiện thường xuyên hoạt động trên biển. Nghiên cứu chính sách đãi ngộ đối với cán bộ y tế phục vụ trên biển, đảo, có chương trình đào tạo, chính sách đãi ngộ phù hợp với đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ y tế biển đảo. Con người là vốn quý của đất nước và sức khỏe lại là vốn quý nhất của con người. Vì vậy, ở mọi nơi, nhất là trên biển, đảo cần phải có một hệ thống y tế hoàn chỉnh, từng bước hiện đại, góp phần bảo vệ sức khỏe cho dân cư và người lao động. Cư dân biển khỏe thì biển, đảo sẽ mạnh./.