SGTT.VN - Dường như cả truyền thuyết về con rùa hồ Gươm cũng đã bị đầu độc, và con rùa toàn thân lở lói sống dở chết dở vừa được cứu hộ kia là biểu tượng não lòng về sự méo mó của nhiều giá trị truyền thống.

Vài tháng nay dư luận Hà Nội, Việt Nam và cả nước ngoài đều xôn xao về chuyện con rùa hồ Gươm. Nhìn từ khía cạnh sinh vật học thì đúng như có người đã nói, con rùa ấy dù gì cũng chỉ là rùa, không thể thoát khỏi định phận sinh lão bệnh tử của mọi cá thể sinh vật, sống thì hay mà chết cũng có thể đem làm tiêu bản để nghiên cứu. Nhưng nhìn từ khía cạnh văn hóa hay tâm linh gì đó thì vấn đề phức tạp hơn, có điều trong vài tháng nay, chuyện con rùa hồ Gươm thể hiện hay phản ảnh cái gì trong văn hóa và tâm linh người Việt Nam lại là sự ít được nói tới nhất, trong khi nếu không làm rõ cái sự ấy thì rất có thể nhiều ý kiến về con rùa hồ Gươm chỉ là chuyện sờ mu rùa. Sau truyền thuyết Thánh Gióng trong đó ngựa sắt giáp sắt roi sắt của Phù Đổng Thiên Vương được sản xuất bằng công nghệ trong nước, người Việt vùng trung châu sông Hồng còn có hai truyền thuyết khác về võ khí chống ngoại xâm và đều có dính dáng tới rùa, tức con rùa vàng (mai cứng?) được vinh phong là thần Kim Quy trao lẫy nỏ giúp An Dương vương giữ thành Cổ Loa và con rùa thiêng (mai mềm?) thu hồi thanh gươm của Lê Thái Tổ ở hồ Hoàn Kiếm. Mấy vụ rùa ốc này nọ cũng dễ hiểu vì thời bấy giờ khu vực trung châu sông Hồng còn nhiều đầm hồ, còn việc dùng các võ khí tạm gọi là hàng ngoại nói trên phản ảnh hay thể hiện điều gì, xin chờ các nhà folklore (tạm dịch: văn hóa dân gian – BTV) học có ý kiến. Tuy nhiên có một điều chắc chắn là trước nay con rùa trao lẫy nỏ không sáng giá bằng con rùa thu gươm thần, và điều này không phải ngẫu nhiên. Kinh Thư, thiên Vũ thành chép sau khi đánh thắng vua Trụ, Chu Vũ vương “Nãi yển vũ tu văn, quy mã vu Hoa Sơn chỉ dương, phóng ngưu vu Đào Lâm chi dã” (Bèn dẹp việc võ, sửa việc văn, cho ngựa về sườn núi Hoa Sơn, thả bò ở cánh đồng Đào Lâm), tức chiến tranh đã chấm dứt, không cần dùng tới ngựa chiến và bò vận tải trong quân nữa. Bài Tẩy binh mã của Đỗ Phủ cũng có câu “An đắc tráng sĩ vãn thiên hà, Tịnh tẩy giáp binh trường bất dụng (Muốn được tráng sĩ kéo sông trời, Rửa sạch giáp binh không dùng nữa), ý nói muốn chấm dứt cảnh loạn lạc giặc giã. Chính trên một căn bản ý thức tương tự mà niềm mong muốn quốc gia độc lập, đất nước thanh bình của người Việt Nam sau khi đánh thắng quân Minh đã được thể hiện qua cách cấu tứ kiểu Việt “trả gươm thần cho rùa thiêng”, và đó chính là ý nghĩa đích thực của truyền thuyết về cả con rùa hồ Gươm lẫn hồ Gươm. Vị vua nào muốn vào Thăng Long thì phải chấm dứt được chiến tranh loạn lạc, và ai đã định đô ở Thăng Long thì nên trút bỏ gươm thần… Tuy nhiên, đúng như K. Marx đã nói “Ý thức không bao giờ có thể khác hơn là sự tồn tại được ý thức”, con người Việt Nam hiện nay tồn tại trong một hoàn cảnh và hệ thống phương thức sống khác hẳn với thời Lê Thái Tổ, nên mong muốn quốc gia độc lập, đất nước thanh bình đã được mở rộng hơn về nội dung, có nhiều phương cách thể hiện cụ thể hơn đồng thời cũng cần tới nhiều điều kiện xã hội hơn. Chính vì những điều kiện ấy chưa phát triển đủ mức cần thiết nên mong muốn ấy ở phần đông người Việt Nam hiện nay chưa được thể hiện một cách toàn diện, nhất quán và minh bạch trên bình diện xã hội, mà trong trường hợp này là sự suy thoái ý thức cộng đồng với những hành động đầu độc hồ Gươm. Thời gian qua cũng đã có không ít lời cảnh báo về tình hình ô nhiễm môi trường trước hết ở hồ Gươm, nhưng đáng tiếc là trong quá trình đô thị hóa rất ít trật tự từ nhiều năm nay, đó chỉ là những tiếng kêu vô vọng. Không lạ gì mà việc cứu hộ con rùa hồ Gươm mới đây có khi được miêu tả bằng một từ khá giải thiêng là “vây bắt”. Dường như cả truyền thuyết về con rùa hồ Gươm cũng đã bị đầu độc, và con rùa toàn thân lở lói sống dở chết dở vừa được cứu hộ kia là biểu tượng não lòng về sự méo mó của nhiều giá trị truyền thống, còn nếu so sánh theo một kiểu không mấy hay ho thì nó hoàn toàn xứng đáng được đề cử làm một biểu tượng đối lập với con rùa thu hồi gươm thần… “Hồ Gươm kia có hai con rùa…”?