Trước thông tin cho rằng, thuế, phí hiện đang ở mức cao và ăn mòn lợi nhuận doanh nghiệp khiến không ít doanh nghiệp lao đao, Bộ Tài chính khẳng định, tỷ lệ động viên ngân sách từ thuế, phí của Việt Nam hiện thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực. Đồng thời, Bộ Tài chính cho biết, sẽ tiếp tục xây dựng, thực hiện chính sách thuế theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nhằm tăng sức cạnh tranh.

Huy dong thue, phi hop ly de ho tro doanh nghiep - Anh 1

Chính sách thuế hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh
và tích tụ vốn

Thuế, phí Việt Nam ở mức thấp trong khu vực

Bộ Tài chính cho biết, theo số liệu thống kê, tỷ trọng tổng số thu ngân sách Nhà nước trên GDP của Việt Nam giai đoạn năm 2011-2015 khoảng 23,3%, trong đó tỷ lệ động viên từ thuế, phí khoảng 20,9%. Trong khi tỷ trọng tổng số thu ngân sách Nhà nước trên GDP của một số nước trong khu vực giai đoạn 2011-2015 như Thái Lan là 23%, Indonesia là 16,6%, Lào 23,4%, Malaysia là 24,5%, Ấn Độ là 19,5%...

Tuy nhiên, số liệu thu ngân sách ở Việt Nam nói trên bao gồm cả những khoản thu có tính chất khác biệt, các khoản thu có bản chất “thu từ vốn” và không mang tính chất động viên từ hoạt động kinh tế. Cụ thể, tính trong giai đoạn 5 năm từ 2011-2015, nếu loại trừ thu từ dầu thô thì tỷ lệ động viên ngân sách từ thuế, phí tính chung ở Việt Nam chỉ khoảng 17,2% GDP.

Và nếu tiếp tục loại trừ thu từ tiền sử dụng đất thì tỷ lệ động viên ngân sách từ thuế, phí ở Việt Nam vào khoảng 15,6%. Như vậy, so với các nước trong khu vực thì tỷ lệ động viên ngân sách từ thuế, phí của Việt Nam hiện thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực.

Vậy doanh nghiệp đánh giá về vấn đề thuế phí ra sao? Ông Nguyễn Văn Châu - Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Giám đốc Công ty cổ phần Thúy Đạt cho rằng: “So với các nước ASEAN và TPP thì thuế đối với doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay không phải quá cao. Thuế xuất khẩu các mặt hàng của chúng tôi là 0%. Thuế thu nhập doanh nghiệp 25% là không thấp, nhưng doanh nghiệp vẫn chấp nhận được. Trong nhiều năm nay, các sắc thuế đối với lĩnh vực này dường như không có thay đổi lớn nào khiến doanh nghiệp khó khăn”.

Tiếp tục điều chỉnh giảm

Đại diện Bộ Tài chính thông tin, tỷ lệ động viên của các sắc thuế chính của Việt Nam ở mức thấp và đang được điều chỉnh theo xu hướng giảm dần. Cụ thể, về thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời kỳ 10 năm từ 1999 đến 2009, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đã được điều chỉnh giảm từ mức 32% xuống 28% và tiếp tục giảm xuống 25%. Mức thuế suất phổ thông từ năm 2014 là 22% và từ 1-1-2016 được điều chỉnh giảm xuống mức 20%, mức thuế suất ưu đãi là 10% và 17%.

Bà Nguyễn Thanh Huyền - Trưởng phòng Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, Cục Thuế TP Hà Nội cho rằng: “Điều tiết về thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời điểm khó khăn hiện nay là phù hợp với lộ trình chung của Chính phủ, đồng thời cũng là giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp. Bên cạnh đó là các giải pháp cải cách thủ tục hành chính, theo hướng chuyển từ hành chính quản lý sang phục vụ, hỗ trợ tối đa người nộp thuế”.

Về thuế giá trị gia tăng, hiện nay, mức thuế suất phổ thông ở Việt Nam là 10% (cùng với mức thuế suất 5% được áp dụng cho nhiều loại hàng hóa, dịch vụ). Thống kê về thuế suất thuế giá trị gia tăng của 112 nước trên thế giới thì có 88 nước có mức thuế suất từ 12-25%, còn lại 24 nước phổ biến ở mức 10%. Đối với các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu hàng hóa sẽ được hưởng nhiều ưu đãi về mặt thuế quan khi Việt Nam và các nước ký kết các Hiệp định Thương mại tự do (FTA)...

Bộ Tài chính nêu rõ, trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, của doanh nghiệp do ảnh hưởng của suy thoái, khủng hoảng kinh tế thế giới, từ năm 2008 đến 2014, Bộ Tài chính cũng đã trình Chính phủ, Quốc hội quyết định và thực hiện nhiều giải pháp về thuế để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh.

“Trong giai đoạn 2016 - 2020, hệ thống thuế sẽ tiếp tục được hoàn thiện đảm bảo đúng mục tiêu theo chiến lược cải cách là xây dựng và thực hiện chính sách huy động từ thuế, phí và lệ phí hợp lý nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu, đầu tư. Theo đó, tỷ lệ huy động ngân sách nhà nước và tỷ lệ động viên từ thuế, phí và lệ phí trên GDP ở mức hợp lý để tăng khả năng cạnh tranh và tích tụ vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”, đại diện Bộ Tài chính khẳng định.