(Infotv.vn) - Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF) vừa nhận định, kinh tế châu Á đang phải đối mặt với việc khôi phục trong một thời gian dài và các biện pháp tài chính mạnh mẽ vẫn là cấp thiết để đưa kinh tế khu vực nhanh chóng thoát khỏi suy thoái.

IMF: chóng thoát khỏi suy thoái. Tăng trưởng châu Á bao gồm cả Nhật, Úc và New Zealand sẽ có khả năng ở mức 1,3% vào năm 2009, kể từ mức 5,1% vào năm 2008. Năm 2010, tăng trưởng kinh tế khu vực châu Á sẽ là 4,3%. Các chuyên gia phân tích đang tăng ước tính đối với tăng trưởng châu Á trong năm 2009 do thừa nhận việc kinh tế Trung Quốc đang khôi phục và các chỉ số kinh tế vĩ mô cho thấy sức giảm sản lượng công nghiệp có thể đã chạm đáy. Chính phủ các quốc gia châu Á đã bơm hơn 950 tỉ đô la vào kinh tế của mỗi khu vực nhằm vào tăng chi phí, cắt giảm thuế và hỗ trợ tiền mặt để kích hoạt tiêu dùng cũng như kinh doanh tại địa phương. Tháng trước, IMF cắt giảm dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới xuống mức âm 1,3% do suy thoái toàn cầu sẽ sâu hơn, khôi phục chậm hơn khi thị trường tài chính phải mất một thời gian dài để ổn định. “ Kinh tế suy giảm kéo theo nhu cầu về hàng hóa châu Á lao dốc, các doanh nghiệp cắt giảm hàng trăm ngàn nhân công sẽ ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ cũng như sức khôi phục của châu Á”, IMF nhận định. Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) cho rằng, thương mại toàn cầu năm 2009 sẽ lần đầu tiên co lại kể từ Thế chiến thứ II bởi vì nhu cầu tại Mỹ và châu Ấu đình trệ. Theo IMF, “ảnh hưởng khủng hoảng đối với khu vực châu Á sẽ nhanh hơn và mạnh mẽ hơn các khu vực khác. Cuối năm 2009, những va chạm sẽ tiếp tục lan tràn sang đầu tư và tiêu dùng cá nhân, là nguyên nhân khiến nhiều quốc gia lâm vào tăng trưởng âm”. IMF dự tính, kinh tế Nhật, Úc, New Zealand, Hong Kong, Hàn Quốc, Singapore, Đài loan, Malaysia và Thái Lan sẽ tăng trưởng âm trong năm 2009. Gần đây, các báo cáo về chỉ số kinh tế vĩ mô tại châu Á cho thấy tốc độ suy giảm có khả năng đang hạ nhiệt. Tại Hàn Quốc và Nhật, sản lượng công nghiệp tăng vào tháng 3, trong khi đầu tư cố định thuộc thành phố tại Trung Quốc tăng lên gấp 3 lần. Chứng khoán phục hồi “ Ngay cả khi xu hướng thị trường chứng khoán tiếp tục đi lên, sự ổn định là khoảng cánh xa đi đến khôi phục” IMF nói. Chỉ số MSCI châu Á- Thái Bình Dương, ngoại trừ Nhật đã giành được 20% giá trị trong năm nay do nhà đầu tư lạc quan vào triển vọng kinh tế khu vực. Năm 2008, chỉ số này bốc hơi 53%. Chứng khoán Trung Quốc là thị trường phục hồi mạnh nhất tính từ đầu năm nay sau khi chính phủ nước này bơm 4 ngàn tỉ nhân dân tệ nhằm kích thích kinh tế. “Các ngân hàng trung ương châu Á và chính phủ phải duy trì các chính sách tài chính mạnh mẽ để giúp khu vực thoát khỏi suy thoái nhanh chóng hơn”. Tỉ lệ lạm phát không phải là vấn đề lo ngại lớn tại châu Á, cho phép các ngân hàng có thể cắt giảm lãi suất hơn nữa”. Trung Quốc, Ấn Độ IMF dự đoán, Trung Quốc sẽ tăng trưởng 6,5% vào năm 2009, kể từ mức 9% vào năm ngoái. Trong khi tăng trưởng của Ấn Độ vào năm nay là 4,5%, giảm hơn so với mức 7,3% vào năm 2008. “Chính sách đối phó khủng hoảng táo bạo của Trung Quốc sẽ thúc đẩy nhu cầu nội địa và duy trì tăng trưởng ở gần với mức các nhà hoạch định chính sách xem là cần thiết để sinh ra công ăn việc làm, ổn định xã hội”. Ấn Độ sẽ ảnh hưởng đặc biệt bởi cú sốc tài chính khi trong những năm gần đây tăng trưởng đầu tư mạnh, nhiều nhà đầu tư vay mượn quá nhiều. Trong tài khóa năm 2008, đầu tư chiếm khoảng 39% GDP Ấn Độ , tăng 25% so với thời điểm 5 năm trước đó. Nhưng trong 3 tháng trở lại đây, các khoản vay và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước này đã giảm khoảng 1/3, xuống mức thấp nhất trong vòng hơn 2 năm nay. “Các nền kinh tế công nghiệp hóa bao gồm Hong Kong, Hàn Quốc, Singapore và Thái lan sẽ phải trải qua một thời gian suy thoái dài và gay gắt. Trong đó, Hàn Quốc sẽ phục hồi nhạnh hơn các quốc gia còn lại do lợi nhuận từ xuất khẩu kể từ khi đồng nội tệ yếu đi và kế hoạch kích thích kinh tế khích lệ được nhu cầu tiêu dùng". IMF nhấn mạnh, chính phủ các nước châu Á sớm sử dụng nhiều công cụ chống khủng hoảng hơn nữa để tăng chi tiêu tiêu dùng nội địa và thay đổi việc phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu do nhu cầu hàng hóa từ các nền kinh tế tiên tiến không chắc chắn sớm phục hồi.