Vùng ven biển Nga Sơn (Thanh Hóa) từ xa xưa đã được lưu danh trong câu ca dao mà nhiều người dân đất Việt đều nhớ đến: “Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng/Vải tơ Nam Định lụa hàng Hà Đông”. Nơi đây có những người nông dân cho đến nay vẫn “ăn đời ở kiếp” với cói và bất cứ ai khi đến “vương quốc cói” Nga Sơn cũng phải “ấn tượng mạnh” với những đồng cói trải dài mênh mông. Có một điều đáng quý là, dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, việc mưu sinh nhờ vào cây cói, song ở những người trồng cói Nga Sơn vẫn luôn toát lên khát vọng muôn đời…

Khat vong “coi Nga Son” - Anh 1

Dù rất vất vả, nhưng người vùng cói luôn bảo nhau gắng “ăn đời ở kiếp” với cây cói. Ảnh: Ánh Tuyết

Gắn bó thân mình trên đồng cói

Chúng tôi vừa có dịp về Nga Sơn, nơi được mệnh danh là “vương quốc cói” của xứ Thanh. Còn nhớ, khi đi trên những con đường dẫn về các xã vùng trọng điểm cói như Nga Tiến, Nga Tân, Nga Thanh, Nga Thủy, Nga Phú, Nga Thái, Nga Điền, Nga Liên…, chúng tôi được chứng kiến cảnh nông dân đang tất bật thu hoạch cói. Cói được chất đầy nhà, tràn ra ngoài sân. Công việc tuy có vất vả nhưng ai cũng phấn khởi, bởi năng suất cói có phần nhỉnh hơn mùa trước, đạt khoảng 4 đến 6 tạ/sào, lại bán được với giá 12-15 nghìn đồng/kg (cói dài) - khá cao so nhiều năm trở lại đây.

Hôm đó, dự báo thời tiết trời nắng to nên vợ chồng anh Nguyễn Văn Sinh, nhà ở xã Nga Tân phải ra đồng từ lúc 3 giờ sáng đặng tránh cái nóng như rang, lại được gió tây “quạt lửa” bồi thêm từ sáng tới chiều. Tạm ngừng công việc, uống xong bát nước chè tươi, anh Sinh tâm sự: “Từ ngày lấy vợ, rồi được cha mẹ cho ở riêng tới giờ đã gần 16 năm. Chừng ấy thời gian vợ chồng tôi chỉ trồng cói thôi. Công lênh nhọc nhằn, lời lãi chẳng được là bao nhưng cói Nga Sơn được người ta biết đến từ đời xa xưa, giờ cứ theo thế mà làm. Nhờ trời, mấy năm nay, cây cói được mùa, cũng cho thu nhập tạm gọi là ổn định…”.

Đoạn, anh Sinh chắt thêm bát nước mời khách đường xa, cố nén tiếng thở dài: “Nói thế chứ nghề cói cũng chẳng đến nỗi nào, không hiểu sao bọn trẻ ở quê tôi bây giờ nhiều đứa rủ nhau đi làm ăn xa, ít người mặn mà với cây cói quê nhà. Làng tôi bây giờ chủ yếu là người già trẻ con, phần vì cái bỏ bụng hằng ngày, phần vì chung thủy với cây cói nên bảo nhau gắng “ăn đời ở kiếp” với nó…”.

Dường như đã thấm nỗi niềm của người nông dân lực điền nơi “vương quốc cói” xứ Thanh, bỏ qua nhưng cơn gió hầm hập thốc lên từ tứ phía, táp ràn rạt vào những mảnh ruộng cói trên đồng đất Nga Tân, chúng tôi quyết định “nhập đoàn” với nhóm người dân đang tay liềm, tay hái trên những ruộng cói. Và những gì chứng kiến được đã khiến chúng tôi “ngộ” ra một điều là cư dân ven biển vốn dĩ vất vả, cực nhọc nhưng cái nghề mưu sinh nhờ cây cói lại càng gian lao gấp bội phần.

Ở tuổi 60, bà Lê Thị Thái, hàng xóm của vợ chồng anh Sinh không còn nhớ rõ mình gắn bó với cây cói từ khi nào, chỉ biết rằng nó đã nuôi sống bà và rất nhiều, rất nhiều cư dân ở vùng ven biển Nga Tân. Vừa thoăn thoắt cắt cói, bà Thái vừa kể: Khi hỏi về làm nghề cói, ai cũng chung một câu trả lời: “Vất lắm!” Cũng phải, vì công bằng mà nói, trồng cói đỡ hơn nhiều so với trồng cây lúa ở các công đoạn đầu tư, chăm sóc, nhưng khi thu hoạch thì rất cực vì thời tiết ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cói.

Ví dụ, nếu đang phơi bị nước mưa ngấm vào thì cói sẽ xấu đi và mất giá. Vì thế, ở vùng Nga Sơn mới sinh ra cái thuật ngữ “chạy cói”, có nghĩa là vào mùa thu hoạch, người ta phải tranh thủ lúc đêm sáng trăng để cắt, tranh thủ lúc trời mới tờ mờ sáng để giũ, chẻ và tranh thủ khi ông mặt trời vừa ló dạng để phơi và bó cói lại thành từng bó nhỏ. Phơi cói cho khô ngọn mất khoảng một ngày nếu nắng thật to và hai ngày nếu trời ít nắng. Nếu cói được nắng sẽ có màu trắng và dai, bán được giá. Ngược lại, nếu cói bị dính nước mưa thì coi như bao công sức của cả mùa dành cho cây cói bị ảnh hưởng.

“Cây cói đòi hỏi sự công phu như vậy nên đến hẹn lại lên, cứ vào dịp giữa hè cho đến đầu thu là thời điểm người trồng cói tất bật, vừa phải lo việc “chạy cói”, vừa phải canh chừng thời tiết. Với chúng tôi, kể từ khi mùa thu hoạch cói bắt đầu, thời gian rảnh rỗi, nghỉ ngơi chỉ đếm trên đầu ngón tay, còn phần lớn là gắn bó thân mình trên đồng cói…” - Bà Thái chia sẻ với tôi.

Khat vong “coi Nga Son” - Anh 2

Sản phẩm từ cây cói Nga Sơn đang ngày càng được đa dạng hóa. Ảnh: Ánh Tuyết

Những mùa cói mới đầy hi vọng

Trao đổi với tôi, một vị lãnh đạo huyện Nga Sơn khẳng định, đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu cùng với tập quán canh tác là những yếu tố góp phần tạo ra thương hiệu riêng của cói Nga Sơn. Thương hiệu đó đang ngày càng được bồi đắp, củng cố một cách bền vững, nhất là khi chỉ dẫn địa lý “cói Nga Sơn” chính thức được Nhà nước bảo hộ. Hiện nay, tính trên toàn huyện Nga Sơn, sản lượng cói sản phẩm đã đạt tới con số 20.000 tấn, giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp từ cây cói đạt từ 180 đến trên 200 tỷ đồng.

Nhờ gắn bó với nghề này mà nhiều gia đình ở Nga Sơn đã tích góp xây dựng được nhà cửa khang trang, mua sắm các tiện nghi sinh hoạt hiện đại đắt tiền, đặc biệt là có thêm điều kiện để nuôi con cái ăn học. Đối với những bậc làm cha, làm mẹ ở vùng cói trọng điểm như Nga Tiến, Nga Tân, Nga Thanh, Nga Thủy, Nga Phú, Nga Thái, Nga Điền, Nga Liên, điều vui mừng nhất là hiện nay tất cả các thôn xóm đều có con em theo học tại các trường đại học, cao đẳng. Nhiều em sau khi tốt nghiệp đã tình nguyện trở về quê công tác. Vào những ngày nghỉ, các em lại cùng mẹ cha ra ruộng cói, như là một hành động để đền đáp công lao đấng sinh thành đã cực nhọc, nuôi nấng mình khôn lớn.

…Tôi tạm biệt vùng cói Nga Sơn khi những tia nắng cuối ngày đang rải khắp nơi. Một mùa cói “mĩ mãn” vừa qua với người dân vùng cói. Cảm giác no đủ càng sung mãn khi ánh hoàng hôn đang phủ lên nhưng ngôi nhà, bên trong đang lách cách, rộn ràng tiếng thoi dệt chiếu. Ngoài đồng cói, những bóng người tất bật găm mình bên bờ vùng, bờ thửa. Họ đang chuẩn bị cho một mùa cói mới đầy hi vọng…

Đặng Thị Ánh Tuyết