PNCN - Cầm xấp hồ sơ gần 100 trang, bà Trần Thị Mỹ Chi, ngụ tại 122/25 đường 11, P.Trường Thọ, Q.Thủ Đức, TP.HCM thở dài: “Gia đình tôi sắp rơi vào cảnh màn trời chiếu đất, các con tôi cũng chẳng có cơ hội để tiếp tục con đường học vấn nếu chúng tôi không được đảm bảo quyền lợi trong vụ kiện tranh chấp thừa kế” - bà Chi hiện là một trong khá nhiều trường hợp có chứng cứ pháp lý với tài sản rõ mười mươi, nhưng chỉ vì vướng thủ tục mà sau nhiều năm lên xuống tòa, họ vẫn là những tỷ phú… không tiền.

NHẬP NHẰNG CON RUỘT - CON NUÔI

Bà Chi là nguyên đơn trong vụ tranh chấp di sản thừa kế với ông Nguyễn Văn O, ngụ tại nhà 125 đường 11, P.Trường Thọ, Q.Thủ Đức, TP.HCM. Đây cũng là ngôi nhà mà bà Chi xin được thừa kế một phần trên diện tích 657,4m2 đất hiện do ông O quản lý, vì đó là tài sản của cha mẹ chồng bà để lại. Nhưng ông O - anh chồng bà Chi không đồng ý chia tài sản, vì không công nhận anh Trần Văn Hùng - chồng bà Chi - là máu mủ ruột rà, bởi từ nhỏ, anh Hùng đã được gia đình cho người khác làm con nuôi. Trải qua hàng chục phiên hòa giải tại địa phương và TAND TP.HCM, ông O vẫn khẳng định: anh Hùng không được cha mẹ ông khai sinh nên ông kiên quyết không chia tài sản thừa kế. Chuyện này khiến gia đình bà Chi ấm ức và hàng xóm cũng ngạc nhiên, vì mấy chục năm qua, vợ chồng bà vẫn giữ mối quan hệ rất thân tình với các anh và chính ba má chồng đã mang trầu cau xin cưới bà Chi cho ông Hùng, có cả vợ chồng ông O tham dự. Vợ chồng bà vẫn chăm sóc cha mẹ khi đau ốm và cũng để tang như những anh chị khác. Chỉ có sự khác biệt duy nhất là ông Hùng không điều chỉnh khai sinh từ con của cha mẹ nuôi sang cha mẹ ruột.

Bà Chi kể: “Cha mẹ chồng tôi có năm người con gồm: anh Nguyễn Văn O (SN 1951), Nguyễn Văn Cầu (SN 1953, mất tại Mỹ năm 2000), Nguyễn Văn Sang (SN 1960), Nguyễn Văn Giàu (SN 1962, mất năm 2010) và Trần Văn Hùng (SN 1966). Do hoàn cảnh khó khăn và quan niệm có năm con trai là “ngũ quỷ”, khó nuôi, khó dạy nên cha mẹ chồng tôi đã cho anh Hùng sang một gia đình hàng xóm làm con nuôi. Đến khi anh Hùng hơn 10 tuổi, anh đã quay về nhận cha mẹ và từ đó làm tròn trách nhiệm người con đến ngày cha mẹ chồng tôi qua đời vào năm 2002. Trách nhiệm và quyền lợi của chồng tôi cũng như các anh khác. Lẽ ra, chồng tôi được thừa kế hơn 130m2 đất (giá thị trường hơn 10 triệu đồng/m2), nhưng tôi chỉ xin chia 70m2, vậy mà anh O không đồng ý”.

Trong khi ông O chối bỏ huyết thống với ông Hùng, thì những người em của ông là Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Văn Giàu và vợ con của ông Cầu vẫn thừa nhận đây chính là ruột thịt và vẫn giữ mối quan hệ tốt đẹp đến hôm nay. Trong bản tự khai ngày 6/7/2009 của ông Nguyễn Văn Sang tại TAND TP.HCM có nội dung: “Trần Văn Hùng do cha mẹ tôi cho từ nhỏ nên mang họ của cha mẹ nuôi. Hiện em tôi còn vợ và hai con”. Ông Nguyễn Văn Giàu cũng khai tại tòa: “Ngày xưa vì con đông, cha mẹ tôi là Nguyễn Văn Hay và Phùng Thị Trinh có gửi em tôi cho người láng giềng là bà Nguyễn Thị Tỵ - ông Trần Văn Năm làm con nuôi nên em tôi không cùng họ với chúng tôi. Đến lúc trưởng thành, em tôi đã về nhà nhận cha mẹ và phụ lo cho cha mẹ tôi đến lúc mất”. Ngoài ra, ngày 16/6/2008, ông Sang và ông Giàu còn làm cam kết, có chứng thực của chính quyền địa phương với nội dung: ông Trần Văn Hùng là con ruột của cha mẹ hai ông, nhưng vì khó nuôi nên cho hàng xóm. Còn bà Nguyễn Ngọc Thanh - vợ ông Giàu kể: “Cha mẹ tôi già yếu phải đi bệnh viện hoài. Các anh chị em thay phiên nhau túc trực ở bệnh viện để chăm sóc cho cha mẹ. Trong đó, Chi là người nuôi nhiều nhất”.

Thương lượng nhiều lần không thành nên bà Chi đã kiện ra tòa vào năm 2008. Vụ án được thụ lý và những tưởng sớm được xét xử khi quyền thừa kế của vợ con ông Hùng quá rõ ràng. Thế nhưng, hai thẩm phán lại có yêu cầu khác nhau. Thẩm phán thụ lý vụ kiện này lúc đầu là bà Nguyễn Thị Hà cho biết, chỉ thiếu mỗi “giấy của chính quyền địa phương xác nhận ông Hùng là con của ông Hay - bà Trinh” là sẽ đưa vụ việc ra xét xử. Đến khi thẩm phán Hà về hưu, thẩm phán khác yêu cầu phải có “giấy chứng tử, giấy kết hôn của ông Cầu và giấy khai sinh của hai con ông Cầu” vì gia đình ông Cầu có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ kiện (trong khi lúc trước thẩm phán Hà không yêu cầu những giấy tờ này vì vợ và hai con của ông Cầu đã đến tòa án khai trực tiếp vào ngày 11/8/ 2009). Chỉ vì vướng thủ tục mà vụ kiện của bà Chi kéo dài gần bốn năm, trong khi cuộc sống của gia đình bà quá khó khăn. Ông Hùng đã tự tử chết vào năm 2007 do nghèo và nợ nần, để lại gánh nặng nuôi hai con cho một người không nghề nghiệp ổn định như bà. Hiện bà Chi đi rửa chén thuê cho một quán ăn, được 40.000đ/buổi. Bà tâm sự: “Với thu nhập này, mẹ con tôi chẳng đủ sống. Tôi cũng tính kiếm thêm việc khác làm, nhưng tôi bị đau khớp nặng, sợ làm rồi đổ bệnh thì càng khổ cho con cái. Tôi phải vay mượn tiền đắp đổi cuộc sống qua ngày. Con gái lớn của tôi đã tốt nghiệp cao đẳng, năm nay cháu định học lên đại học, nhưng gia đình khó khăn, cháu phải xin đi làm công nhân. Mẹ con tôi ráng để lo cho cô con gái nhỏ học hết lớp 12 nhưng khó quá. Căn nhà mẹ con tôi đang ở cho người bạn mượn giấy tờ đi thế chấp vay vốn, giờ họ bỏ trốn nên ba mẹ con tôi sắp bị mất nhà. Tôi mong vụ kiện nhanh chóng kết thúc, để mẹ con tôi sớm ổn định cuộc sống”.

Mấy năm qua tòa án là nơi bà Trần Thị Mỹ Chi đến thường xuyên

Bản cam kết xác nhận ông Hùng là em ruột của ông Sang và ông Giàu

VÀ… CON NGOÀI GIÁ THÚ

Một vụ kiện hy hữu khác là trường hợp của chị Thu, ở Q.Tân Phú, TP.HCM. Chị tìm đến Báo Phụ Nữ với câu nói lặp đi lặp lại: “Tôi thật sự bế tắc và đến đường cùng rồi”. Sự bế tắc của chị là món nợ cả tỷ đồng đến hạn trả mà chị đã vay trong nhiều năm qua để chữa bệnh ung thư của cha, bệnh tim của chị, tiền thuê nhà trọ và lo cho đứa con đang tuổi cắp sách tới trường. Thu nhập từ việc bán hàng siêu thị của chị chỉ hơn ba triệu đồng/tháng. Vì vậy, vụ kiện là chiếc phao cứu sinh cho gia đình chị - nhất là đứa con đang có nguy cơ bỏ học giữa chừng. Tôi thắc mắc: “Chị nghề nghiệp không ổn định, làm sao người ta dám cho chị vay cả tỷ đồng?”. Chị thành thật: “Tôi cho người ta xem hồ sơ vụ kiện, họ thấy tôi tranh chấp tài sản mấy tỷ bạc nên cho vay”.

Chị muốn nhờ Báo can thiệp, nhưng lại sợ mọi chuyện phơi bày ra, các chủ nợ biết chuyện sẽ “xử” mẹ con chị như từng hăm dọa. Rồi chị bộc bạch: “Đường cùng tôi mới đi kiện, chứ chuyện có hay ho gì. Dù kết quả thế nào thì con tôi cũng chịu thiệt thòi”. Quả thật, việc chị Thu đi kiện chẳng khác nào “bố cáo” với bàn dân thiên hạ: chị từng làm chuyện trái đạo lý, dù ban đầu, chị cũng chỉ là nạn nhân.

Ngày ấy, chị 25 tuổi, xinh đẹp, nhiều người theo đuổi, nhưng chị - nhân viên bán hàng tại một siêu thị - vẫn chỉ chuyên tâm phụng dưỡng cha mẹ già. Rồi chị nhận lời yêu anh, bởi vì thấy anh thật thà, chu đáo. Tin anh chân thành nên chị “lỡ mang thai” và sinh cho anh một đứa con trai (năm 2000) sau hai năm yêu nhau. Anh Văn cũng tự nguyện đi khai sinh cho cháu Khiêm - con trai hai người, nhưng nhắc đến chuyện cưới xin thì anh lần lữa với lý do “hai đứa không hợp tuổi”. Nghi ngờ anh đã có gia đình, chị vừa truy hỏi, vừa thuyết phục, anh mới “nhỏ to tâm sự” là đã có vợ và ba con, dù không hạnh phúc. Anh cũng tuyên bố sẽ không bỏ vợ và cũng không bỏ chị. Không muốn làm người thứ ba, chị Thu yêu cầu chia tay. Anh Văn năn nỉ và luôn khẳng định sẽ yêu thương, quan tâm mẹ con chị nên sự yếu lòng của người phụ nữ, người mẹ khiến chị “nối lại tình xưa”. Kịch bản này diễn đi diễn lại gần chục lần, đến khi hai người chia tay hẳn vào năm 2004.

Một năm sau, anh Văn qua đời không để lại di chúc. Theo điều 676 Bộ luật Dân sự, cháu Khiêm thuộc hàng thừa kế thứ nhất: con ruột, con nuôi…, nhiều người khuyên chị Thu kiện, nhưng chị từ chối vì thấy anh Văn mất chưa lâu, hơn nữa, khi đó chị vẫn đủ sức để lo cho con. Thế nhưng, khi cha chị phát bệnh ung thư vòm họng, cần nhiều tiền để chữa trị lâu dài, chị cũng phải chữa chạy bệnh hở van tim ba lá. Mỗi tuần, riêng tiền thuốc của chị và ba chị hơn năm triệu đồng. Từ đó, chị lún trong nợ nần. Để cứu cha, cứu mình và lo tương lai cho con, chị đã phải nghĩ đến việc đòi quyền thừa kế cho con. Nhưng đây không phải là việc dễ dàng. Chị Thu kể: “Tôi bắt đầu nộp đơn ra tòa vào năm 2008, xin cho con được là một trong bảy người thừa kế (gồm vợ, ba con và cha mẹ của anh Văn, cháu Khiêm) hưởng một phần thừa kế trong tài sản của anh Văn gồm: hai căn nhà ở trung tâm Q.1, một căn nhà và đất ở khu Phú Mỹ Hưng có tổng trị giá gần chục tỷ đồng. Thế nhưng, từ đó đến nay, vụ việc vẫn dậm chân tại chỗ. Lúc đầu tòa nói do phía vợ anh Văn yêu cầu giám định gene của Khiêm, tôi không đồng ý do tốn kém vô lý, vì tôi đã nộp giấy khai sinh của con, chứng minh cháu là con hợp pháp của anh Văn như luật định (theo điều 80 Bộ luật Tố tụng dân sự - PV). Còn nếu có nghi ngờ thì bên phải chứng minh là vợ anh Văn chứ không phải tôi. Sau đó tòa trả lời, do vụ việc có yếu tố nước ngoài, một trong ba người con của anh Văn sống ở nước ngoài, nên phải có ý kiến của người đó. Tòa cũng cho biết, đến nay con của anh Văn vẫn chưa phản hồi nên không thể xét xử được. Tôi thấy điều này thật không hợp lý, vì con của anh Văn chẳng dại gì mà tự nguyện phản hồi, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của bên đó - sẽ bị chia một phần tài sản. Nếu không có phản hồi, chẳng lẽ suốt đời con tôi không được thừa kế tài sản của cha? Có thể tôi có lỗi, nhưng con tôi không có tội”.

Vụ việc kéo dài, người thiệt thòi nhất vẫn là cháu Khiêm. Cháu không chỉ bị thiệt về quyền lợi tài sản, mà cả nhân thân, danh dự cũng bị ảnh hưởng. Tiếc rằng những người lớn đã không chịu ngồi lại với nhau cùng giải quyết để vẹn cả đôi đường và cũng an lòng người đã khuất.

Thùy Dương