13 năm sau khi Mỹ và liên quân đồng minh tuyên bố tấn công Iraq..., không ai còn có thể nhận ra một Iraq đã từng là một điểm trung chuyển và giao lưu văn hóa ở Trung Đông.

13 năm sau khi Mỹ và liên quân đồng minh tuyên bố tấn công Iraq, một quyết định không được sự đồng ý của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, không ai còn có thể nhận ra một Iraq đã từng là một điểm trung chuyển và giao lưu văn hóa ở Trung Đông.

Tuần trước, vụ đánh bom vào thủ đô Baghdad làm ít nhất 250 người thiệt mạng cùng hàng nghìn người khác bị thương, làm nó trở thành vụ đánh bom đẫm máu nhất kể từ năm 2003, chỉ làm nhiều người bất ngờ vì độ thảm khốc của nó chứ không phải vì nó xảy ra. Đã có rất nhiều bài phân tích, cả trên báo chí lẫn các hội thảo học thuật về điều gì đang xảy ra ở Iraq.

Sự yếu kém và bất lực của Chính phủ cũ lẫn mới trong việc kiểm soát làn sóng xung đột sắc tộc phe phái mà điển hình là tổ chức khủng bố hồi giáo cực đoan ISIS. Sự biến mất của nền kinh tế do tình hình an ninh không đảm bảo và nạn tham nhũng trở thành thường ngày ở huyện.

Bài báo này sẽ khác. Bài báo sẽ không tập trung vào những gì đã xảy ra từ sau chiến dịch Tự do Iraq (tên chính thức của chiến dịch tấn công Iraq của Liên Quân). Ngược lại, bài báo sẽ lấy ngày 20/3/2003 làm cột mốc kết và đặt ra câu hỏi liệu có cách nào tránh được một cuộc xâm lược Iraq hay không?

Cụ thể, câu hỏi mà bài báo muốn trả lời ở đây là liệu giải pháp quân sự được dùng với Iraq có phải là “Giải pháp cuối cùng không?”. Nếu câu trả lời là không thì cuộc xâm lược Iraq không nên diễn ra từ đầu và khả năng lớn là những bất ổn hiện tại không chỉ ở Iraq mà là cả khu vực đáng ra đã không có. Tổng thống Mỹ George Bush khi đó và “người bạn đồng hành” bên kia bờ Đại Tây Dương Tony Blair đề xuất giải pháp dùng vũ lực để lật đổ chính quyền của Saddam.

Khoang 350.000 - 1 trieu dan thuong Iraq da thiet mang, cai ket co the tranh duoc? - Anh 1

Tổng thống Mỹ George Bush khi đó và “người bạn đồng hành” bên kia bờ Đại Tây Dương Tony Blair

Hussein trên cáo trạng rằng Hussein sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt và có bằng chứng về sự liên kết giữa Saddam và tổ chức khủng bố cực đoan Al-Qaeda. Tệ hơn, Ngoại trưởng Mỹ lúc đó là Colin Powell, trong bài phát biểu trước Liên Hiệp Quốc, vẽ ra viễn cảnh Saddam trao vũ khí hủy diệt hàng loạt cho Al-Qaeda để tấn công Mỹ và các đồng minh phương Tây.

“Vì lẽ đó, Saddam Hussein phải trao trả toàn bộ vũ khí hủy diệt hàng loạt cho thanh sát viên quốc tế và rời ngôi vị để một cuộc tranh cử dân chủ có thể diễn ra”, Powell kết luận. Không lâu sau đó thì Đại hội đồng bảo an tổ chức bỏ phiếu và phần lớn nhận định rằng “có dấu hiệu mờ ám trong việc thực hiện Nghị quyết 1411 của chính quyền

Saddam Hussein (Nghị quyết yêu cầu Iraq giải giáp toàn bộ vũ khí hủy diệt hàng loạt)” nhưng điểm mấu chốt trong bản báo cáo là “đoàn thanh sát viên không tìm được dấu hiệu của vũ khí hủy diệt đang được sản xuất hay lưu trữ tại những điểm nghi ngờ”.

Dù vậy thì Bush và Blair, cho cuộc bỏ phiếu này đồng nghĩa với việc Iraq đã vi phạm hiệp định và đồng nghĩa với giải pháp quân sự phải được tiến hành. Tất nhiên là Liên Hiệp Quốc đã thẳng thừng công khai rằng hai việc không được đánh đồng với nhau.

Những “bằng chứng không thể chối cãi” về việc Saddam Hussein sở hữu và tiếp tục đẩy mạnh sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt đều được chứng minh là “viển vông và không có cơ sở’ bởi tờ New York Times 7 tháng sau khi liên quân đổ bộ và vẫn không tìm được dấu vết nào của vũ khí.

Việc này được lý giải là các cơ quan tình báo của Mỹ và Anh, hai nước chủ đạo trong chiến dịch, đã đặt ra đề toán sai ngay từ đầu. Thay vì nghiên cứu vấn đề Iraq và vũ khí hủy diệt hàng loạt từ góc nhìn khách quan. CIA và MI6 đã bắt đầu câu chuyện với nhận định chắc chắn rằng Saddam có vũ khí hủy diệt hàng loạt và họ chỉ thu thập những thông tin tình báo có lợi cho hướng điều tra này mà không một lần dừng lại để tự hỏi xem liệu nhận định ban đầu của mình có đúng không.

Điều này một lần nữa được khẳng định trong báo cáo của ngài John Chilcot vừa được cho công chúng đọc ngày hôm qua. Bản báo cáo dài 2,6 triệu từ đưa ra những nhận định đanh thép về “những bằng chứng như trẻ mẫu giáo” đã đưa VQ Anh vào một cuộc chiến được chuẩn bị quá sơ sài.

Lý do thứ hai để tuyên chiến với Iraq, lý do Saddam có liên hệ với Al-Qaeda và ông ta có thể chuyển vũ khí hủy diệt cho tổ chức này bất cứ lúc nào. Lý do này thậm chí còn đáng ngờ hơn lý do trước. Chưa một hồ sơ an ninh hay tổ chức tình báo nào trên thế giới từng phát hiện ra bất cứ mối liên hệ nào giữa Saddam và

Al-Qaeda. Trên góc độ lý tưởng thì họ còn là kẻ thù của nhau do Saddam cai trị Iraq với bàn tay sắt và thẳng tay đàn áp bất kỳ tổ chức tôn giáo mang triều hướng cực đoan nào. Dù vậy nhưng Bush vẫn khẳng định việc Saddam và Al-Qaeda có liên hệ với nhau là thật và việc một “tên điên” - Saddam - kết hợp với “những thằng khùng” - Al-Qaeda - là đủ để Mỹ dùng quân sự để bảo vệ lợi ích của mình.

Nếu như Saddam có liên hệ với Al-Qaeda thật thì việc tấn công có lẽ là việc tồi tệ nhất có thể làm. Lý do đơn giản là vì Saddam khi bị động như vậy sẽ không còn lý do gì để sử dụng vũ khí hủy diệt của mình lên đội quân liên minh hoặc dùng nó tấn công đồng minh Mỹ như Ả Rập Xê Út hay

Israel. Đơn giản hơn là làm như lời Bush “tiên đoán”, trao vũ khí cho Al-Qaeda. Nếu những nhận định về vũ khí hủy diệt và mối liên hệ giữa Saddam và Al-Qaeda là thật thì chính sách cần làm là “cô lập hóa” như kiểu chiến tranh lạnh với Liên Xô và tiếp tục đàm phán để giải giáp kho vũ khí này. Tấn công một nước có thể có vũ khí hủy diệt hàng loạt chưa bao giờ là một ý tốt trong bất kỳ cuốn sổ tay quan hệ quốc tế nào.

Ann Clwyd, thành viên Hạ viện Anh đã bỏ phiếu ủng hộ chiến dịch tấn công Iraq năm 2003 đã nói hôm qua rằng bà không ân hận về quyết định của mình và nếu như hỏi lại thì bà vẫn sẽ bảo lưu quan điểm. Lý do là Saddam là một người tàn bạo sẵn sàng tàn sát dân thường của mình (đặc biệt là người Kurd) để bảo vệ quyền lực.

“Tôi không nghi ngờ rằng việc ép Saddam rời ngôi vị bằng hình thức quân sự đã cứu được nhiều mạng người có thể bị sát hại bởi ông ta”. Không ai phản đối việc Saddam là một Tổng thống tàn bạo nhưng không biết bà Clwyd sẽ nói gì với khoảng 350.000 đến 1 triệu người dân thường Iraq đã thiệt mạng từ năm 2003. Một cuộc chiến vi pháp trên những bằng chứng không có thực.