Khủng hoảng tín dụng đã ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế Mỹ. Từ thị trường chứng khoán ở Wall Street cho tới những khu Main Street, những khoản vay có vẻ như rất chắc chắn năm ngoái giờ đã bắt đầu bộc lộ nhiều dấu hiệu bất ổn.

kh243 Ngân hàng Trung ương Mỹ, đã phải xóa bỏ những qui tắc thông thường để duy trì ảnh hưởng của các biện pháp khẩn cấp áp dụng gần đây. Ông Kevin Logan -Ngân hàng Dresdner Kleinwort, một trong những nhà kinh tế ít bi quan nhất của New York, đã tóm tắt về việc những khó khăn của tín dụng đã ảnh hưởng đến nhiều loại tài sản bằng một câu nói: "Chúng tôi đều là nạn nhân của nợ xấu.'' Ngân hàng Trung ương Mỹ đã cắt giảm lãi suất lần thứ năm vào thứ ba kể từ tháng chín năm ngoái, và lãi suất đã hạ từ ba phần trăm xuống còn 2,25%. Đây là lần cắt giảm lớn, và trong thực tế thì mức lãi suất này thực sự đã âm. Kịch bản này dường như đúng theo dự đoán từ vài tuần trước. Cho dù có sự cắt giảm lãi suất hay hỗ trợ cung ứng những nguồn đặc biệt cho thị trường chứng khoán Mỹ, Ngân hàng Trung ương càng cắt giảm bao nhiêu, thị trường lại càng cần thêm bấy nhiêu. Vấn đề của Bernanke Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Ben Bernake - người đang có nhiệm vụ bình ổn nền kinh tế, hiện phải đối mặt với hai vấn đề chính. Nền kinh tế đã có dấu hiệu của sự trượt dốc. Bên cạnh đó cũng đã có những bất ổn trong thị trường tài chính mà việc cắt giảm lãi suất không thể cứu vãn. Người ta cũng tin rằng các ngân hàng ngày càng thận trọng trong việc cho các ngân hàng khác vay cũng như cố gắng cứu vãn các khoản nợ trong thực tế. Tuy vậy, hai cuộc khủng hoảng là tách biệt, nhưng lại cùng bắt nguồn từ một nguyên do cơ bản, đó là việc giá bất động sản tại Hoa Kỳ đã sụt giảm trên toàn quốc lần đầu tiên kể từ cuộc đại suy thoái vào những năm 1930. Khủng hoảng nhà đất Trên khắp nước Mỹ, từ những chủ bất động sản cho đến các quĩ đầu tư, đã vay hàng trăm tỷ USD với giả thuyết rằng sẽ không có bao giờ xảy ra việc cắt giảm lãi suất như vừa rồi. Hiện tại khi giá nhà sụt giảm 10%, rất nhiều người cho vay, từ cá nhân đến các tổ chức, dường như đã không còn quá bất ngờ trước việc này. Đối với các chủ sở hữu nhà. Hồi năm 1976, tỷ lệ đặt cọc trung bình cho những người mua nhà lần đầu tiên tại Hoa Kỳ là 18%. Nhưng giữa những năm 2005 và 2006, hầu hết một nửa trong số những người mua nhà lần đầu không phải trả một khoản nào, theo Hiêp hội Bất động sản Quốc gia. Nếu giá nhà giảm 10 phần trăm vào những năm 1970, những người mua nhà lần đầu tiên sẽ cố gắng trụ lại để hy vọng có thể lấy lại được tiền bỏ ra lúc đầu khi nhà đất lên giá. Nhưng hiện tại, họ không có tiền đặt cọc trong nhà trong khi khoản tiền vay mua nhà lớn hơn giá trị nhà của họ vào thời điểm hiện nay. Như vậy họ có mọi lý do để từ bỏ khoản vay. Rủi ro Các nhà đầu tư cũng như những thể chế tài chính hiện tại đang nắm giữ các tài sản liên quan đến thuê mua nhà đất không thể biết chính xác có bao nhiều khoản vay sẽ kết thúc do vỡ nợ nhưng họ biết rõ rằng đó là một con số đáng sợ và con số này sẽ còn tiếp tục tăng. Mỗi lần điều chỉnh những dự toán là một lần giá của các tài sản liên quan đến đâu tư nhà đất lại tiếp tục sụt giảm. Đối với các quĩ đầu tư và những nhà đâu tư khác đã đặt quá nhiều hy vọng rằng giá nhà đất sẽ tiếp tục tăng, sự mất mát này còn lớn hơn nhiều lần so với sự mất mát các chủ sở hữu nhà phải gánh chịu. Quĩ đầu tư Carlyle đã vỡ nợ 17 tỷ USD tuần trước, và cứ một đô la đầu tư họ đã mất 31 USD. Một vài người đã cho rằng Ngân hàng Trung ương Mỹ nên để tất cả các thể chế tài chính chịu hậu quả, thậm chí đi đến phá sản nếu cần thiết. Theo Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mỹ, vấn đề nằm ở chỗ các thị trường tài chính hiện liên kết chặt chẽ với nhau. Ở những thời điểm khác bớt xáo trộn hơn, có lẽ ông đã có thể để Bear Stearns phá sản. Nhưng vào thời điểm hiện tại, có thể xuất hiện rủi ro về hiệu ứng domino trên thị trường và cái mà được gọi là một thập kỷ suy thoái kinh tế kiểu Nhật Bản. Ông Ben Bernanke đang tìm một giải pháp thần kỳ để tránh suy thoái kinh tế trầm trọng. Tuy nhiên, ông vẫn chưa tìm được.