Càng ngày nguy cơ suy thoái kinh tế ở Mỹ dường như ngày hiện rõ. Vậy thì trong trường hợp này, các thị trường đang nổi lên có thể có giữ nền kinh tế thế giới ổn định hay không?

small_7580 Vào năm 1929, vài ngày sau khi thị trường chứng khoán đi xuống một cách thê thảm, tạp chí Harvard Economic Society tái khẳng định với các độc giả của mình rằng: “Một cuộc đại suy thoái là khó có khả năng xảy ra”. Điều đó lặp lại vào tháng 3 năm 2001, khi có đến 95% các chuyên gia kinh tế Mỹ khẳng định sẽ không thể có một cuộc suy thoái, cho dù đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu không mấy lạc quan. Ngày nay, hầu hết các chuyên gia kinh tế không đưa ra dự đoán về một cuộc suy thoái trên thị trường Mỹ, tuy nhiên một bộ phận nhỏ trong số họ vẫn đưa ra những lời dự đoán một cách dè dặt. Trong bản đánh giá gần đây nhất, người ta cũng đã đưa ra khả năng về một sự thoái trào của thị trường. Đã có nghiên cứu cho rằng, GDP trên toàn nước Mỹ tăng mạnh, đạt 3,9%/năm tính đến quý 3 năm nay và họ vẫn đang nghiên cứu để đẩy con số này lớn hơn nữa. Thế nhưng đó chỉ là con số của những năm về trước nhưng vẫn có nhiều quan điểm cho rằng nền kinh tế vẫn sẽ đứng vững trong quý 4. Vào đầu năm sau, sản lượng của nền kinh tế và bài toán việc làm có thể sẽ là mối lo ngại hàng đầu mà nguyên nhân chủ yếu bởi sự bùng nổ của thị trường bất động sản. Các chuyên gia cho rằng việc thị trường này đi xuống gần như là điều không tưởng trên toàn nước Mỹ. Tuy nhiên giá cả của thị trường này đã giảm đáng kể với 5% trong vòng 12 tháng qua. Lĩnh vực đầu tư vào thị trường nhà ở cũng đã không thể khởi sắc, nhưng sự dư thừa về nguồn cung trên thị trường bất động sản cũng đồng nghĩa với việc giá cả sẽ xuống trong một thời gian xa. Dường như cái cách mà người Mỹ đang sử dụng đồng tiền cho việc mua bán những căn hộ đã khiến cho thị trường bất động sản còn trở nên lình sình hơn so với năm 2001 khi thị trường chứng khoán bước vào giai đoạn thoái trào. Giá của thị trường nhà đất ở mức thấp hơn và các điều khoản tín dụng chặt chẽ hơn là kết quả của một cơn khủng hoảng. Nhà đầu cơ cũng không còn được cho vay những nguồn vốn để đầu tư vào lĩnh vực này. Trong khi đó, nền kinh tế chịu tác động bởi giá dầu. Người tiêu dùng cũng dần quay lưng lại, điều này gây thiệt hại không nhỏ đối đối với lợi nhuận và đầu tư của các công ty. Đồng đôla suy yếu cũng sẽ khiến giá xuất khẩu tăng, nhưng với chỉ 12% GDP, xuất khẩu xem ra chiếm một vị trí quá khiêm tốn trong việc vực dậy tiêu dùng trong nhân dân, thị trường chiếm đến 70% GDP. Phá vỡ sự tự do Liệu thị trường Mỹ sẽ đi xuống cùng với đó? Trong khi đó, nền kinh tế châu Âu và Nhật Bản có sự bật dậy một cách đáng nể trong quý 3, tuy nhiên xét trong tổng thể thì đó vẫn là một sự đi xuống một cách từ từ. Cho dù cả châu Âu và Nhật đều có thể giữ nguyên mức tăng trưởng đó thì cũng khó có thể đạt đến một sự tăng trưởng như người ta vẫn nói là bùng nổ. Luồng tiền tệ mạnh sẽ ảnh hưởng xấu đến những nhà xuất khẩu của cả hai phía. Thị trường bất động sản vốn nóng bỏng của lục địa già cũng đang dần lắng dịu và các ngân hàng cũng bị ảnh hưởng bởi sức khỏe của nền kinh tế Mỹ. Trong bối cảnh đó, niềm hy vọng lớn nhất là sự tăng trưởng của kinh tế toàn cầu hòng cứu vãn những nền kinh tế đang đứng trước bờ vực suy thoái. Cách đây một thập kỷ, những nơi có nguy cơ khủng hoảng luôn khiến cho người ta phải khiếp sợ. Nhờ những chủ trương kinh tế sâu rộng mà nền kinh tế Mỹ đã đạt mức tăng trưởng hàng năm quanh mức 7%. Trong năm nay, kinh tế Mỹ đã đóng góp tới một nửa trong tổng số mức tăng trưởng của GDP toàn cầu bởi sự linh hoạt trong chính sách tiền tệ. Trong quá khứ, những cường quốc kinh tế mới nổi cũng thường phải cần đến những chính sách đó từ các nước giàu. Và lần này, họ đã thành công. Lẽ dĩ nhiên, tình trạng suy thoái ở Mỹ có thể sẽ khiến cho xuất khẩu của các cường quốc này suy giảm theo, nhưng họ cũng đỡ bị thiệt hại hơn so với trước đó. Vì thế mà tầm quan trong của Mỹ trong việc cầm trịch nền kinh tế toàn cầu cũng không còn được như trước. Kể từ năm 2000, ảnh hưởng của Mỹ đến kim ngạch nhập khẩu của thế giới đã giảm rõ rệt từ 19% xuống còn 14%, trong khi đó những nước có nền kinh tế phát triển thường dựa vào nội lực. Trong nửa đầu năm nay,sự tăng trưởng trong chi tiêu của người tiêu dùng tại Trung Quốc và Ấn Độ cộng lại đã vượt qua Mỹ trong việc thúc đấy sự tăng trưởng của GDP toàn cầu. Hầu hết các nước có nền kinh tế tăng trưởng cao đã “sống khỏe” hơn và họ cũng không còn quá lệ thuộc vào thị trường tiền tệ của “phần còn lại”. Nhưng họ lại sở hữu lượng dự trữ ngoại tệ khổng lồ (không quá ¾ trong tổng số ngoại tệ của thế giới). Dù sao đi chăng nữa, phần lớn trong số các nước này có lượng thâm hụt ngân sách không đáng kể (một sự thay đổi so với quá khứ). Vì thế mà những nước này có thể có những tác động không nhỏ đến tiêu dùng chung nếu cần thiết khi kim ngạch xuất khẩu được coi là yếu. Điều này không có nghĩa là các nước có nền kinh tế phát triển sẽ phát triển một cách nhanh chóng giúp cho bộ mặt của nền kinh tế thế giới sáng sủa hơn khi sản lượng của nền kinh tế Mỹ suy giảm. Phần lớn trong số họ đều tạo những bước tiến thận trọng cho năm sau. Chẳng hạn như Trung Quốc, đất nước có tỷ lệ tăng trưởng được cho là “chỉ” 10%. Vì vậy mà tỷ lệ tăng trưởng toàn cầu sẽ trở nên dễ dàng và mức trung bình 5% được xem là lý tưởng. Câu chuyện về hai giá Những quốc gia được mệnh danh là “con rổng mới nổi” ngày càng có tầm quan trọng sẽ có những chính sách phù hợp nhằm kìm chế tốc độ tăng giá. Và như thế giá cả sẽ được điều chỉnh trong tầm kiểm soát ngoại trừ dầu thô và đồng đôla và hậu quả là các nước phát triển sẽ gặp đôi chút khó khăn khi không điều tiết được hai mặt hàng đặc biệt này, đặc biệt là Mỹ. Giá dầu thô thế giới nhìn chung đã tăng chóng mặt do nhu cầu sử dụng năng lượng này ngày một cao từ các cường quốc kinh tế, những nước sử dụng đến 4/5 nguồn lượng dầu trong tổng số trữ lượng dầu đã tiêu thụ trên toàn thế giới trong vòng 5 năm qua. Việc đồng đôla suy yếu khi gần đây 1,5 đôla đổi được 1 euro khiến người ta nghi ngại về một sự tuột dốc tiếp theo của đồng tiền này cho dù ngân hàng trung ương Mỹ đã có những động thái nhằm cứu vãn đồng tiền của họ, và những động thái này chỉ được xem như “ném đá ao bèo”. Ngoại trừ Trung Quốc và một số quốc gia khác ít bị ảnh hưởng bởi tác động của đồng đôla suy yếu, các nước châu Á và Trung Đông đều có những dòng tiền tệ phụ thuộc rất nhiều vào đồng đô la và đang phải đối mặt với nguy cơ lạm phát. Và chính các nước này ngày một tỏ ra bị động trong việc đưa ra những chính sách tiền tệ của mình, cách tốt nhất đối với những quốc gia này là cắt giảm lượng dự trữ ngoại tệ bằng đôla. Sức sống mạnh mẽ của các nền kinh tế hùng mạnh luôn là tin tốt đối với nền kinh tế thế giới nhất là cho sự tăng trưởng, và điều đó giúp cho thế giời ngày càng giảm đi sự phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ. Và đó cũng là tin tốt cho nền kinh tế Mỹ. Nên chăng, thế giới bớt phụ thuộc vào đồng đôla.