Năm qua, dù các nước chịu tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, Việt Nam vẫn là nước phục hồi nhanh và bước đầu phát triển trở lại. Đó là kết quả vào cuộc quyết liệt của toàn xã hội, trong đó vai trò quản lý Nhà nước đóng vai trò then chốt.

Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa thập niên thứ 2, thế kỷ 21. Thế nhưng, mốc thời gian chắc chắn sẽ không quan trọng bằng những đổi thay nhanh chóng của quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế, và những biến đổi sâu sắc nó mang lại. Năm 2009 là năm minh chứng rõ nhất điều này, khi kinh tế thế giới chịu sự tác động của quá trình suy thoái toàn cầu. Bằng bản lĩnh và trí tuệ, Việt Nam đã vượt qua suy thoái với những thành tích đáng tự hào, được thế giới đánh giá cao. Điều đáng nói hơn đó chính là vai trò của kinh tế nhà nước đã phát huy hiệu quả cao nhất. GS.TS Vũ Văn Hiền, Ủy viên Trung ương Đảng, thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam bình luận về toàn cảnh kinh tế Việt Nam, những phản ứng chính sách trong điều hành cùng những dự báo về triển vọng kinh tế 2010. PV: Thưa GS.TS, năm 2009, có thể thấy suy thoái kinh tế đã tác động nhanh và mạnh đối với rất nhiều nước trên thế giới. Qua thống kê, nước nào có vai trò kinh tế nhà nước lớn và tập trung chỉ đạo điều hành tìm nhiều biện pháp khắc phục thì nền kinh tế sẽ có tăng trưởng cao. Việt Nam và Trung Quốc là những ví dụ điển hình. Giáo sư có đánh giá như thế nào về thực tế này? GS.TS Vũ Văn Hiền: Đúng thế, Việt Nam và Trung quốc là hai nước vượt qua khủng hoảng sớm nhất, phát triển trở lại nhanh nhất, đặc biệt là Trung Quốc. Trung Quốc được đánh giá như một yếu tố tác động để làm giảm bớt cơn cuồng phong của cuộc khủng hoảng vừa qua. Nhìn lại cụ thể hơn có thể thấy cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu tác động đến suy thoái kinh tế toàn cầu lần này với tốc độ rất nhanh, rất mạnh, bởi nó ở trong bối cảnh thế giới đang toàn cầu hóa kinh tế. Khủng hoảng xuất phát từ trung tâm là Mỹ, một nền kinh tế tài chính lớn nhất thế giới nên khủng hoảng lan tỏa lập tức đến Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ La tinh, Châu Úc, và tất cả các nước đều bị những ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là Mỹ và Châu Âu. Nguyênànhan của khủng hoảng có rất nhiều, trực tiếp là do những chính sách về tiền tệ, tài chính của Mỹ rồi tư bản giả, những bong bóng tư bản với thị trường bất động sản ở Mỹ. Nhưng nguyên nhân sâu xa nhất chính là cơ chế vận hành của nền tài chính thế giới với học thuyết chủ nghĩa tự do mới. Theo thuyết này, càng ít sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế càng tốt và để cho “bàn tay vô hình” của thị trường tự do điều hành kinh tế, bắt đầu từ Mỹ với lý thuyết của Reegan và Anh với Thatcher. Và rồi, cuộc khủng hoảng tài chính lần này thể hiện một điều là “bàn tay vô hình” của cơ chế thị trường đã đánh gục nền tài chính thế giới. Nguyên nhân khách quan là mâu thuẫn của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa với sức sản xuất rất phát triển, cách quản lý vừa lỗi thời vừa cản trở đã làm sập đổ toàn bộ hệ thống tài chính tiền tệ của Mỹ và thế giới tư bản. Điều đó chứng tỏ việc nhà nước điều hành quản lý nền kinh tế, trong đó có quản lý tài chính tiền tệ một cách hiệu quả là rất quan trọng. Khi cuộc khủng hoảng nổ ra, tất cả các nước trên thế giới đều phải vào cuộc, dĩ nhiên, tất cả các nhà nước của các nước, ngay kể cả Mỹ cũng vào cuộc. Người ta đã chi hàng nghìn tỷ USD để cứu vớt tình trạng suy thoái. Chính việc các nhà nước đồng tâm hiệp lực để mà giải quyết, ngăn cản quá trình suy thoái kinh tế đã làm kiềm chế quá trình suy thoái và cả thế giới đã qua được điểm đáy suy thoái kinh tế, bắt đầu có dấu hiệu phục hồi. PV: Thưa giáo sư, với mức tăng trưởng kinh tế đạt 5,32% năm 2009, Việt Nam đã tạo được hơn 1,5 triệu việc làm. Đây là con số ý nghĩa nếu so sánh với con số gần 800 tỷ USD mà nước Mỹ phải chi ra để cứu vãn tình trạng thất nghiệp. Điều này đặt ra vấn đề gì trong phát triển kinh tế thị trường và xử lý các vấn đề phát sinh, thưa giáo sư? GS.TS Vũ Văn Hiền: Năm qua, GDP của Việt Nam đạt 5,32%. Đây là cố gắng của toàn xã hội, sự lãnh đạo của Đảng và điều hành quản lý của Chí phủ, cùng sự tin tưởng vào cuộc của tất cả các ban ngành và nhân dân. Chính niềm tin của nhân dân làm cho những chính sách, quyết tâm của Chính phủ đạt hiệu quả. Điều quan trọng là công tác dự báo về những chuyển biến và khả năng của tình hình là tương đối chính xác, từ đó chúng ta đã đưa ra các giải pháp hữu hiệu. Khi đã đưa ra giải pháp rồi thì toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đồng tâm hiệp lực để thực hiện cho tốt. Và qua hiệu quả đạt được thì niềm tin của nhân dân lại tăng lên. Chúng ta cũng phải thấy yếu tố nông nghiệp, nông thôn trong cơn khủng hoảng vừa qua. Tuy tốc độ tăng không cao nhưng đây cũng là một không gian mở vô cùng hài hòa để điều hòa khi những người mất việc quay về với nông thôn. PV: Nhiều người có chung nhận định, năm 2010, kinh tế thế giới sẽ khởi sắc trở lại. Giáo sư suy nghĩ như thế nào về điều này? GS.TS Vũ Văn Hiền: Cuối năm 2009, và bước sang 2010, dấu hiệu phục hồi kinh tế rất là rõ. Chúng ta đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất. Bây giờ tín hiệu tăng trưởng là rất rõ ràng. Việt Nam là một trong những nước có khả năng phục hồi nhanh nhất, hiệu quả cao nhất. Năm 2010, chúng ta có nhiều thuận lợi. Trước hết là Việt Nam đã có đà phục hồi và tăng trưởng. Hơn nữa, nhiều công trình, cơ sở hạ tầng kinh tế bắt đầu phát huy tác dụng, mở ra nhiều bước tiến mới. Niềm tin của nhân dân cũng tăng lên. Tuy còn có những khó khăn, nhưng năm 2010, tiếp tục đà của năm 2009, kinh tế Việt Nam sẽ có nhiều chuyển động tốt hơn và khởi sắc. PV: Nhưng bản thân quá trình hồi phục kinh tế thế giới cũng sẽ chứa đựng những mối âu lo của năm 2010, thưa giáo sư? GS.TS Vũ Văn Hiền: Khó khăn của năm 2010 là khi nền kinh tế thế giới phục hồi thì sự cạnh tranh tăng lên. Suy thoái kinh tế khiến xuất khẩu kém, nhập khẩu khó khăn, giá cả hàng hóa rẻ nên cạnh tranh giảm đi rõ rệt. Khi kinh tế phục hồi thì nhiều khả năng cạnh tranh thế giới tăng lên vì các nước đều muốn phục hồi nhanh và dốc sức đầu tư để cạnh tranh. Bên cạnh đó là yếu tố bảo hộ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến xuất khẩu của Việt Nam. Biểu hiện rõ nhất vừa qua là vụ việc về giày mũ da, cá basa của chúng ta đối với thị trường Mỹ và Tây Âu. Cùng với đó là xu hướng giá cả tăng lên, và nếu không cẩn thận, lạm phát có thể quay trở lại. Đây là những khó khăn chúng ta cần lường trước và dùng sức mạnh kinh tế cùng những thuận lợi, thời cơ để có những bước phát triển. PV: Trong phiên họp Quốc hội cuối năm ngoái, các đại biểu lo lắng 2 vấn đề: Hiệu quả đầu tư khi chỉ số ICOR liên tục tăng, đạt gần 8 lần vào năm 2008 và thách thức khi chúng ta tìm kiếm mô hình phát triển bền vững mới, trong đó có tái cấu trúc kinh tế. Về 2 vấn đề này, giáo sư nhận định, đánh giá thế nào ? GS.TS Vũ Văn Hiền: Những ý kiến chung của các đại biểu Quốc hội là chính xác. Hiệu quả đầu tư của chúng ta là chưa cao. Mô hình phát triển bền vững thì đúng là đang phải tìm tòi. Trình độ quản lý, kinh nghiệm, đầu tư có tính đồng bộ, quy hoạch của chúng ta chưa thật khoa học. Chúng ta đầu tư đơn lẻ, đầu tư từng bộ phận, đầu tư từng công trình một thì hiệu quả chưa thể cao được, nhưng cũng không thể không đầu tư. Cũng phải thấy một điều nữa là hiệu quả đầu tư của chúng ta dù chưa cao nhưng tác dụng của nó ngày càng lớn, ví dụ như các nhà máy điện, nhà máy xi măng, nhà máy lọc dầu, đường sá, cầu cống, bến cảng… Hiệu quả so sánh thì chưa cao nhưng hiệu quả về mặt xã hội vẫn được phát huy rất tốt. Về mô hình phát triển thì phải nói rằng, cả thế giới đều nói đến tái cấu trúc. Thực ra phát triển bền vững ở đây bao hàm rất nhiều ý nghĩa: Làm sao quy hoạch phải tốt hơn, cơ cấu đầu tư sắp tới để định hướng cơ cấu của nền kinh tế, ngành nào phát triển, ngành nào là mũi nhọn, rồi đến mức cụ thể hơn là nhà máy nào, công trình nào được đầu tư tốt… Phát triển bền vững bao hàm cả việc phải bảo vệ môi trường, cả cân đối trong toàn ngành kinh tế. Chúng ta có thể đảm bảo kinh tế vừa hội nhập được nhưng vẫn có tính độc lập tự chủ cao. Nghĩa là bản thân nền kinh tế phải có sức chịu đựng, tự khẳng định để hội nhập. Đây là điều mà trong tái cấu trúc chúng ta cần tính. Một yếu tố nữa để kinh tế bền vững là phải quan tâm đến xóa đói giảm nghèo, đảm bảo bình ổn xã hội. Xã hội an toàn thì làm cho nền kinh tế phát triển. An sinh xã hội cũng là mục tiêu chúng ta phải rất đề cập. Chính phủ trong dịp Tết tới phải đảm bảo an sinh xã hội, trợ giúp cho người nghèo cũng là một chủ trương rất lớn.. PV: Bài học của năm 2009 là vượt qua khó khăn phải dựa vào người dân, trong điều hành kinh tế phải đổi mới tư duy. Vấn đề này cần phải quan tâm như thế nào trong năm 2010, thưa giáo sư? GS.TS Vũ Văn Hiền: Trong điều hành, quan trọng bậc nhất là phải luôn luôn sáng tạo, bởi vì cách mạng là sáng tạo. Nền kinh tế chúng ta là cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái khâu định hướng ấy có nghĩa là luôn luôn phải điều hành. Mà trong điều hành thì chúng ta phải nắm bắt được xu thế khách quan của nền kinh tế với ý chí chủ quan để làm sao hạn chế được rủi ro, hạn chế được những tiêu cực đương nhiên của thị trường, phát huy được yếu tố tích cực của thị trường. Điều hành luôn phải sáng tạo nhưng quyết liệt và cũng phải mềm dẻo, có đổi mới. Qua việc điều hành quyết liệt và hiệu quả của điều hành kinh tế vĩ mô của đất nước trong năm qua, niềm tin của các doanh nhân, của nhân dân tăng lên. Trong điều kiện nào thì Chính phủ với nhân dân cũng phải là một khối. Niềm tin của nhân dân là yếu tố vô cùng quan trọng đảm bảo thắng lợi của mọi cuộc cách mạng, trong đó có cách mạng về kinh tế. PV: Giáo sư vừa nói Chính phủ và nhân dân phải là một khối, vậy giáo sư đánh giá như thế nào về vai trò cầu nối của Đài TNVN nói riêng và báo chí nói chung trong thời gian qua với nhân dân? PV: GS.TS Vũ Văn Hiền: Báo chí nói chung, các phương tiện thông tin đại chúng là cái gương phản ánh xã hội. Báo chí cách mạng không phải là người chứng kiến mà phải là người trong cuộc. Chức năng của báo chí cách mạng trong đó có Đài TNVN là vừa là người đồng hành phản ánh xã hội nhưng đồng thời là người làm nên xã hội, tham gia vào các quá trình xã hội. Báo chí nói chung còn là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa chứ không phải chỉ mang nhiệm vụ phản ánh. Chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, nghĩa là việc tuyên truyền chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chính sách mới, những điều hành của Chính phủ phải làm sao để nhân dân hiểu, đồng tình, tạo đồng thuận xã hội. Trong nhiệm vụ chung, Đài TNVN trong thời gian qua có nhiều cố gắng, hơn 2.000 cán bộ, phóng viên, kỹ thuật viên của Đài không ngừng sáng tạo và đạt nhiều thành tích rất xuất sắc. Như việc Đài TNVN quyết tâm phủ sóng biển Đông với diện phủ sóng 4000 km và phát sóng 24/24 giờ trên biển từ 1/1/2010. Khoảng 1 triệu người hoạt động trên biển có thể nghe Đài TNVN, làm cho biển chúng ta ấm áp hơn, sinh động hơn. Những người đi trên biển sẽ cảm thấy luôn luôn gần với đất liền. Đài có những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho nhân dân, thể hiện ở việc ra đời Kênh Hướng dẫn giao thông ở Hà Nội và TP HCM. Hàng ngày có gần 5000 tin nhắn và yêu cầu gửi về Kênh Giao thông, cùng với hàng nghìn đơn thư của bà con khắp nơi gửi đến các hệ khác của Đài. Điều đó thể hiện sức hấp dẫn của Đài TNVN đã tăng lên, vai trò tác động của Đài đến xã hội cũng không ngừng nâng cao. Chúng tôi tin tưởng, trong thời gian tới, Đài TNVN sẽ phát huy toàn bộ những thành quả của mình, với thế mạnh của 4 loại hình báo chí: Phát thanh, Báo in, Báo điện tử và Báo hình./. PV: Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư./.