Hồ sơ của một đơn vị đặc biệt đang dần đi vào quên lãng.

Những lực lượng đặc biệt trong chiến tranh SGTT - Sau năm 1975, để tổng kết việc chi viện của ngành y tế cho chiến trường miền Nam, bộ trưởng bộ Y tế Vũ Văn Cẩn tuyên bố “Vụ I đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Không nghe ai nhắc đến Quốc doanh y vật liệu (QDYVL) dù từ đơn vị này, hàng trăm ngàn tấn thuốc men, trang thiết bị y tế đã được chi viện kịp thời cho miền Nam. Xếp dỡ hàng tại các binh trạm chuyển hàng vào miền Nam. Ảnh: tư liệu Hồ sơ mang bí danh QDYVL Đó là đơn vị hoạt động hoàn toàn bí mật, không ai biết đến. Khi giải thể cũng không kèn không trống – lời giới thiệu khái quát của ông Lê Văn Phương, nguyên giám đốc công ty dược phẩm trung ương I, chồng của cố dược sĩ Nguyễn Thị Táo Hương, giám đốc đầu tiên của QDYVL, khiến chúng tôi không khỏi chạnh lòng. Năm 1960, trước tình hình cuộc cách mạng miền Nam đang chuyển hướng từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh vũ trang; ngành y tế, ngoài việc sản xuất thuốc men, xây dựng cơ sở khám chữa bệnh cho miền Bắc còn gánh thêm trọng trách đặc biệt: chi viện cho miền Nam. Lúc này, ở bộ Y tế đã có vụ I làm nhiệm vụ điều động cán bộ trong ngành và lên kế hoạch chi viện thuốc men cho miền Nam. Giúp việc cho vụ I là tổ 6 trực thuộc quốc doanh y dược phẩm Trung ương, là đơn vị chuyên đóng gói, lên cơ số thuốc men cho các cán bộ vượt Trường Sơn vào Nam. Đến năm 1965, nhu cầu chi viện tăng cao, tổ 6 được tách ra, chính thức chuyển đổi thành đơn vị đặc biệt như một tổng kho chi viện thuốc men, vật tư y tế cho chiến trường miền Nam và chiến trường Lào, Campuchia. Nhân sự của QDYVL lúc cao điểm là 250 người, hầu hết là những cán bộ được tin cẩn, biết giữ bí mật công tác. Trong hồi ký của bà Nguyễn Thị Thiện, trưởng kho C, hồ sơ của đơn vị đặc biệt này được ghi lại như sau: là cơ quan phục vụ chiến trường nên hoạt động hết sức bí mật, kể cả vợ chồng, con cái và người thân của cán bộ nhân viên cũng không biết là làm cái gì. Đến tên gọi của cơ quan cũng mập mờ, thoạt nghe, nhiều người tưởng là phục vụ vật liệu xây dựng. Ngay cả bộ chủ quản cũng ít ai biết. Sau giải phóng, nhiều đồng chí ở bộ khi nghe giới thiệu về QDYVL cũng không biết là cơ quan gì. Đáp ứng nhu cầu chi viện hỏa tốc cho miền Nam nhưng khi ấy, QDYVL không có một hệ thống kho ổn định để trữ nguồn hàng cần thiết. Theo lời kể của ông Lê Đình Hưng, nguyên phó giám đốc QDYVL: Lúc đó hàng trong nước, hàng viện trợ từ các nước bạn tập trung chi viện cho miền Nam rất nhiều nhưng kho tàng không có, hơn nữa để tránh chiến tranh phá hoại của Mỹ, chúng tôi phải phân tán thuốc men khắp nơi, hình thành cả mạng lưới kho tàng cơ động, dã chiến rải khắp Hà Nội và các tỉnh lân cận. Khi Mỹ đánh phá miền Bắc, cả Hà Nội sơ tán thì chúng tôi ở lại bảo vệ thuốc. Có những hôm được tin Mỹ sẽ đánh bom vào những điểm có kho, vậy là chỉ trong một đêm, hàng chục tấn thuốc đã được cán bộ nhân viên “cõng” di dời ra ngoài bờ đê, bảo vệ an toàn. Tác chiến cơ động Sau khi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, năm 1976, QDYVL giải thể, âm thầm như ngày thành lập theo yêu cầu bí mật. Từ đó đến nay, cái tên QDYVL đã chìm vào quên lãng, không có bất cứ bằng khen, lá cờ tuyên dương nào dành cho họ. Tinh thần làm việc của QDYVL là thường trực, không có ngày lễ, chủ nhật. Hồi ký của bà Táo Hương còn lưu lại tinh thần này: Chỉ có làm và làm. Còn họp gì thì họp, tất cả đều họp vào ban đêm. Thật thà mà nói, anh chị em nói lái ra là “Quốc doanh y vật lộn” quả là không sai. Việc vận chuyển thuốc vào chiến trường miền Nam rất khó khăn, phải qua các trạm trung chuyển theo từng chặng đường, dưới bom đạn, mưa gió… Trong tài liệu của vụ Chính trị, bộ Y tế còn lưu lại chuyện kể của bác sĩ Đào Duy Sang – người áp tải chuyến hàng gồm 15 xe “zin 3 cầu” chở 130 tấn thuốc và vật tư y tế vào chiến trường năm 1965: … “Những ngày đêm dài trên đường Trường Sơn thật căng thẳng, cái chết luôn kề bên. Những chiếc xe lớn, mỗi xe chở hàng chục tấn thuốc rất mong manh dưới làn bom đạn của máy bay Mỹ. Chúng tôi phải vật lộn với bom đạn, gió mưa, đói khát, sự trục trặc, hỏng hóc của đoàn xe và không tránh khỏi những tổn thất. Khi đoàn xe leo dốc 20, dốc cao nhất trên đường thì bị máy bay địch săn đuổi. Đêm đó, khi đang bò trườn trên sườn dốc, một phi đội oanh kích vào phía đoàn xe. Hai chiếc xe bốc cháy, người và hàng lao xuống vực thẳm. Trước khi về đến đích, chúng tôi còn mất hai xe nữa. Đúng ngày 1.10.1965, sau 25 ngày hành trình gian khổ, chúng tôi về đến ban Dân y khu 5 (Tây Quảng Nam) còn lại 11 xe và 13 lái xe”. Hành trình khốc liệt là thế nên nhiều khi thuốc phải nằm lại cả năm trời ở các binh trạm. Chính vì vậy, chất lượng đóng gói vô cùng quan trọng. Làm sao cho thuốc men vào đến nơi phải đảm bảo chất lượng? Một quy trình đóng gói theo chuẩn… dã chiến đã được áp dụng: thuốc tiêm phải gói riêng từng ống, bọc ngoài giấy xốp, có chèn lót bằng bông băng y tế, vừa tránh đổ vỡ, vừa tận dụng được số bông băng này; thuốc viên tháo bỏ chai lọ, đóng gói hai lần túi nylon, hàn kín, đánh máy nhãn thuốc đầy đủ, có công dụng, liều dùng; y dụng cụ tháo bỏ hộp sắt tây, bảo quản trong dầu trung tính… Các loại thuốc sau khi đóng gói lẻ được xếp vào các thùng sắt tây, lót hai lần túi nylon, một lớp ván lót bao kín các mặt thùng, mỗi thùng có trọng lượng từ 25 – 30kg hàn kín để có thể gùi trên lưng. Chất lượng đóng gói được kiểm nghiệm bằng cách cho thùng thuốc rơi tự do từ độ cao 10m và ngâm trong nước 4 – 5 ngày, nếu thuốc không bị hỏng, vỡ, ẩm ướt thì mới được xuất. Nhờ cách đóng gói này mà có những chuyến hàng bị nằm lại binh trạm 25 (Quảng Bình) cả hai năm, nhiều thùng hàng bị móp méo, không còn ký hiệu do bom đạn nhưng chất lượng thuốc bên trong khi kiểm tra vẫn còn tốt. Theo bà Nguyễn Thị Hương, cán bộ vụ I: Từ năm 1968, luôn luôn có những lệnh chi viện đột xuất, thường là chiến trường điện ra xin vắcxin, thuốc đặc trị, thuốc cấp cứu… bất cứ lệnh đột xuất nào từ vụ I, QDYVL cũng đáp ứng kịp thời, kể cả những lần đột xuất với số lượng lớn như: lần gửi 100 tấn thuốc men y dụng cụ cho Trung ương cục miền Nam theo đường thủy qua Campuchia năm 1968; lần gửi trên 1.000 tấn thuốc sốt rét, dụng cụ, hóa chất diệt muỗi cho các tỉnh khu 5 và B3 (Gia Lai – Kon Tum – Dăk Lăk). Những năm sau này, khi y tế chiến trường miền Nam phát triển, QDYVL đã kịp thời gửi vào các dụng cụ thiết yếu như máy dập viên quay tay, cân chính xác, dụng cụ pha chế… và các máy móc hiện đại như X-quang xách tay, máy điện tim, máy quang phổ kế, thậm chí xin được 45 xe hồng thập tự gửi cho các tỉnh miền Nam. Sau khi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, năm 1976, QDYVL giải thể, âm thầm như ngày thành lập theo yêu cầu bí mật. Từ đó đến nay, cái tên QDYVL đã chìm vào quên lãng, không có bất cứ bằng khen, lá cờ tuyên dương nào dành cho họ. Chỉ trong ký ức của nhiều người, QDYVL vẫn tồn tại, lấp lánh một niềm kiêu hãnh: “Đã hy sinh một cách thầm lặng để đóng góp vào công cuộc hòa bình và giải phóng đất nước” với “Những năm tháng sôi động để lại kỷ niệm thật đẹp trong cuộc đời”. Gia Anh Nguyễn Kỳ cuối: Kỳ tích giữa rừng