Điện năng là vật tư đầu vào không thể thiếu đối với các ngành sản xuất cũng như nhu cầu đời sống thường ngày của số đông người dân. Chưa nói đến mất điện, chỉ cần nguồn cung không đủ, sản xuất cũng như đời sống sẽ trở nên lao đao khốn khổ. Chưa thật sự "no đủ” nhưng sản lượng điện của Việt Nam đang tăng lên qua từng năm, trong đó nguồn thủy điện chiếm phần lớn nhất. Về hiệu quả kinh doanh, thủy điện tạo ra lợi nhuận khủng cho ngành điện lực.

Tổng sản lượng điện của quốc gia được huy động từ nhiều nguồn như thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện khí, nhiệt điện dầu, điện gió, ngoài ra còn có một phần điện nhập khẩu. Những năm gần đây, thủy điện thường xuyên chiếm ngôi vị số một cả về tổng mức phát điện cũng như tỉ trọng tăng trưởng, hiệu quả kinh doanh.

Năm 2013, Bộ Công thương xác định chỉ tiêu khai thác nguồn thủy điện ở mức 53,94 tỉ KWh nhưng kết quả thực tế huy động lên đến 56,943 tỉ KWh. Tính riêng năm vừa qua, sản lượng thủy điện được huy động vượt chỉ tiêu hơn 3 tỉ KWh, gấp đôi tổng sản lượng nhiệt điện được huy động trong năm 2013. Ở đây có vấn đề rất đáng lưu ý: trong khi nguồn thủy điện được huy động vượt xa chỉ tiêu, các nguồn điện còn lại đều đạt mức thấp. Sản lượng nhiệt điện than được phê duyệt với chỉ tiêu huy động 29,403 tỉ KWh nhưng thưc tế chỉ có 26,863 tỉ KWh, giảm gần 3 tỉ KWh. Chỉ tiêu nhiệt điện khí được phê duyệt 44,349 tỉ KWh, kết quả thực hiện đạt 42,854 tỉ KWh, thấp hơn chỉ tiêu 1,5 tỉ KWh. Nguồn nhiệt điện chạy dầu được Bộ Công thương phê duyệt với chỉ tiêu 1,57 tỉ KWh, thực tế chỉ huy động 0,147 tỉ KWh, chỉ bằng xấp xỉ 10% chỉ tiêu kế hoạch. Tăng mạnh huy động thủy điện và giảm sâu các nguồn điện khác (nhất là nhiệt điện chạy dầu) đó là dụng ý mang tính chủ đạo của ngành điện lực.

Hãy xem xét giá thành đầu vào của các nguồn điện để hiểu thêm vì sao có sự khác biệt nói trên. Giá bán như nhau nhưng giá thành các nguồn điện có khoảng cách rất lớn. Với thủy điện, tổng giá thành hiện thời làm ở mức từ 600-700 đồng/KWh. Trong khi nguồn nhiệt điện khí có giá thành từ 1.200 đồng- 1.400 đồng/KWh, cao gấp đôi giá thành thủy điện. Đặc biệt giá thành nhiệt điện chạy dầu lên đến xấp xỉ 5.000 đồng/KWh, gấp gần 7 lần so với giá thủy điện. Điều đó lí giải vì sao, tính riêng năm vừa qua, trong khi nguồn thủy điện được huy động vượt chỉ tiêu hơn 3 tỉ KWh thì nguồn nhiệt điện chạy dầu chỉ đạt xấp xỉ 10% chỉ tiêu kế hoạch. Kể cả người dân bình thường cũng nhận ra vấn đề đang trở thành sự quan tâm đặc biệt của ngành điện lực: huy động tối đa nguồn thủy điện giá rẻ để hưởng lợi nhuận ở mức cao nhất.

Kinh doanh phải tạo ra hiệu quả, việc đó là hiển nhiên, không có lãi là đồng nghĩa với phá sản. Khai thác tối đa nguồn điện giá rẻ, hạn chế nguồn điện giá cao, đó là sự lựa chọn không sai của ngành điện lực. Huy động tối đa nguồn thủy điện (vượt xa chỉ tiêu đã được phê duyệt) với giá thành rẻ, tạo mức lãi khủng cho ngành điện lực nhưng các địa phương và người dân nơi có thủy điện phải hứng chịu thiệt hại không hề nhỏ. Môi trường bị tàn phá nặng nề. Mùa mưa bị ngập lụt, mùa nắng khan hiếm nước – thủ phạm do thủy điện gây ra. Người dân (nhất là bà con dân tộc thiểu số) phải di dời nhường đất cho thủy điện nhưng không ít nơi tái định cư rơi vào tình trạng nhếch nhác, thậm chí các điều kiện tối thiểu không được bảo đảm. Ở đâu có thủy điện, ở đó dễ xảy ra nghịch lí: ngành điện lực hưởng lợi nhờ lãi lớn, người dân gánh chịu nhiều bất lợi. Nơi nào làm thủy điện theo kiểu "phong trào” và để cho lơi ích nhóm chi phối, hậu quả càng trở nên nghiêm trọng.

Bổ sung thủy điện cho nguồn điện quốc gia là rất cần thiết, nhất là trong điều kiện cung thấp hơn cầu. Vấn đề đặt ra là số lượng dự án và mạng lưới thủy điện được xây dựng như thế nào cho phù hợp điều kiện thực tế. Mặt khác, phải xem xét lợi ích từ nhiều phía, lợi ích lâu dài của số đông người dân phải trở thành sự lựa chọn đầu tiên và cao nhất.

Bá Tân