Hành vi giả mạo, khai man giấy tờ, hồ sơ để hưởng chế độ ốm đau, chế độ tai nạn lao động có thể bị xử lý hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hoặc tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức...

Hỏi: Tôi có tham gia bảo hiểm bắt buộc tại công ty. Tuy nhiên, trong thời gian qua công ty đã có hành vi làm giả giấy tờ, hồ sơ để hưởng chế độ ốm đau, chế độ tai nạn lao động của một số người lao động. Vậy hành vi đó bị xử phạt như thế nào?

(Nguyễn Hồng - Bắc Ninh)

Lam gia ho so de huong che do om dau, che do tai nan lao dong se bi xu phat the nao? - Anh 1

Ảnh minh hoạ

Trả lời:

Thứ nhất, quy định về xử phạt hành chính đối với hành vi làm giả hồ sơ giả giấy tờ, hồ sơ để hưởng chế độ ốm đau, chế độ bảo hiểm xã hội.

Khoản 1, khoản 2, khoản 6 Điều 27 Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/08/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: quy định về việc vi phạm quy định về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

"1- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa những nội dung có liên quan đến việc hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

2- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người lao động có một trong các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp sau đây: (a) Thỏa thuận với cơ sở đào tạo nghề làm giả hồ sơ để trục lợi số tiền hỗ trợ học nghề mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; (b) Không thông báo với Trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định khi người lao động có việc làmtrong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp; (c) Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp không thông báo theo quy định với Trung tâm dịch vụ việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: tìm được việc làm; thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; hưởng lương hưu hằng tháng; ra nước ngoài để định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Biện pháp khắc phục hậu quả: (a) Buộc nộp lại cho tổ chức bảo hiểm xã hội số tiền bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này; (b) Buộc tổ chức triển khai đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động đúng theo phương án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 5 Điều này".

Thứ hai, hành vi giả mạo, khai man giấy tờ, hồ sơ để hưởng chế độ ốm đau, chế độ tai nạn lao động có thể bị xử lý hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hoặc tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 (viết tắt là BLHS 2015), thay thế Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (viết tắt là BLHS 1999), quy định như sau:

- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174):

"1- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Tái phạm nguy hiểm; đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

- Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341):

"1- Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác; d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; đ) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; e) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên; b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.

4- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”.

Như vậy, việc làm giả giấy tờ, hồ sơ để hưởng chế độ ốm đau, chế độ tai nạn lao động là một hành vi vi phạm pháp luật. Trong trường hợp này, sẽ căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ ba, nhận diện một số thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội (BHXH) để trục lợi.

Thuật ngữ thủ đoạn được hiểu là cách thức, mánh lới để thực hiện hành vi. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thủ đoạn là cách hành động, tính toán theo chiều hướng chuyển thiệt hại của người khác thành lợi ích của mình”. Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện cố ý hoặc vô ý vi phạm đến các quy định của pháp luật trong quản lý và thực hiện chính sách BHXH. Thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH là hệ thống những hành vi, những mánh lới, những cách thức của đối tượng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH nhằm mục đích đã đặt ra từ trước của các đối tượng vi phạm.

Theo thống kê, từ năm 2007 - 2016, BHXH Việt Nam đã tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHXH với 103.199 lượt đơn vị sử dụng lao động. Qua kiểm tra, phát hiện đề nghị xử phạt vi phạm hành chính pháp luật về BHXH 7.765 vụ và đã xử phạt vi phạm hành chính 2.020 vụ; đề nghị truy thu về Quỹ BHXH 331,5 tỷ đồng. Tính đến hết năm 2016, số tiền nợ BHXH của doanh nghiệp là 7.795 tỷ đồng, chiếm 3,30 % so với tổng số tiền phải thu. Hiện nay, có khoảng hơn 300.000 doanh nghiệp đang hoạt động nhưng chỉ có 150.000 doanh nghiệp tham gia BHXH. Như vậy, số doanh nghiệp trốn đóng BHXH là khoảng 150.000 doanh nghiệp với trên 05 triệu lao động. Ngoài ra, các hành vi gian lận, khai man, lập hồ sơ BHXH khống để hưởng các chế độ BHXH... Qua thực tiễn đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH, xin rút ra một số thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này như sau:

Một là, thủ đoạn trốn đóng BHXH cho người lao động:

- Lợi dụng cơ chế, chính sách BHXH còn có kẽ hở; chế tài xử lý nợ chậm đóng BHXH cho người lao động chưa nghiêm nên doanh nghiệp cố tình chây lỳ trốn đóng hoặc chiếm dụng BHXH của người lao động.

Trong những năm qua, do quy định mức phạt lãi suất chậm đóng BHXH và mức phạt tối đa đối với hành vi chậm đóng BHXH thấp nên nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng các qui định này chiếm dụng tiền BHXH của người lao động. Doanh nghiệp sử dụng số tiền đó để đầu tư trở lại sản xuất, kinh doanh và chấp nhận nộp phạt. Vì tổng số tiền phải nộp phạt và lãi chậm đóng BHXH thấp hơn so với lãi suất vay ngân hàng.

- Người sử dụng lao động lách luật bằng cách hợp đồng miệng hoặc kí liên tiếp chuỗi hợp đồng theo thời vụ hoặc chuỗi hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng hoặc kéo dài thời gian thử việc. Vì theo quy định của Luật BHXH năm 2006, người lao động có hợp đồng lao động dưới 3 tháng không phải tham gia BHXH bắt buộc.

Trước khi Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016, thủ đoạn này xảy ra khá phổ biến ở các doanh nghiệp vừa, nhỏ và hộ gia đình. Với thủ đoạn lợi dụng kẽ hở này của pháp luật, đơn vị sử dụng lao động không phải đăng kí tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động nhằm trốn đóng BHXH cho người lao động. Nếu bị phát hiện thì doanh nghiệp chấp nhận nộp phạt. Điển hình: Năm 2014 tại Thành phố Hồ Chí Minh, qua công tác thanh, kiểm tra, cơ quan BHXH đã phát hiện Công ty Sunrising Kim Vina đã sử dụng một chuỗi hợp đồng thời vụ 3 tháng, nhưng trên thực tế 500 công nhân đều làm việc trên 1 năm. Công ty Vina Haeng Woon Quận 8, kéo dài thời gian thử việc 1.000 công nhân, sau hơn 1 năm làm việc mới được ký hợp đồng lao động và đóng BHXH. Doanh nghiệp Thuận Kiều Plaza Quận 5, gần 200 người lao động đã làm việc gần 10 năm vẫn không được ký hợp đồng lao động mà chỉ là hợp đồng miệng và không được tham gia BHXH.

- Để đóng mức BHXH thấp hơn mức quy định, doanh nghiệp đã lập và sử dụng hai hệ thống số lương khác nhau. Một hệ thống lương dùng để chi trả lương thực tế cho người lao động; một hệ thống lương khác dùng để đăng ký tham gia và làm cơ sở tính mức đóng BHXH (mức lương này chỉ bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu vùng một chút). Với thủ đoạn này, các doanh nghiệp đã trốn đóng một khoản tiền BHXH mà theo quy định pháp luật họ phải đóng cho cơ quan BHXH. Điển hình: Qua kiểm tra, thanh tra tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn J and V, tỉnh Đồng Nai, phát hiện nhiều trường hợp người lao động có tới 2 hợp đồng lao động. Mức lương ký trên hợp đồng lao động thực trả là 12.000.000 đồng/tháng, mức lương ký hợp đồng lao động để tham gia BHXH chỉ là 2.000.000 đồng/tháng (bằng với mức lương tối thiểu vùng).

Hai là, thủ đoạn gian lận để thụ hưởng các chế độ BHXH:

- Người vi phạm lập khống, giả mạo hồ sơ BHXH làm căn cứ cho việc thanh toán chế độ ốm đau, thai sản nhằm chiếm đoạt tiền BHXH.

Để lừa dối cơ quan chức năng nhằm chiếm đoạt tài sản, người vi phạm làm giả giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH, giấy ra viện, giấy khám thai hoặc sửa chữa, tẩy xóa các loại giấy tờ này hoặc móc nối với cơ sở y tế để được cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH, giấy ra viện, giấy khám thai không đúng quy định làm căn cứ thanh toán tiền trợ cấp ốm đau, thai sản.

Ngoài ra, người vi phạm còn thành lập doanh nghiệp “ma”, sau đó làm hợp đồng tuyển dụng lao động khống cho nhân viên nữ để đăng kí đóng BHXH hoặc hợp đồng tuyển lao động phụ nữ có thai. Thực tế, họ không làm việc mà vẫn đăng kí đóng BHXH đầy đủ 6 tháng theo quy định. Người vi phạm lập hồ sơ BHXH khống và làm thủ tục đề nghị thanh toán chế độ thai sản, chiếm đoạt tiền BHXH. Điển hình: Vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Hồ Chí Minh, năm 2015. Lê Thành Thắng cấu kết với một số đối tượng thành lập 10 doanh nghiệp “ma”. Khi đã có tư cách pháp nhân, Thắng lập khống hồ sơ tuyển nhân viên nữ làm việc trong các doanh nghiệp do mình điều hành và đăng ký đóng tiền BHXH cho các nhân viên này từ 6 - 8 tháng rồi ngưng đóng. Sau đó, lập hồ sơ cho nhân viên nghỉ sinh đẻ hoặc cho thôi việc, sau đó làm thủ tục để nghị thanh toán chế độ ốm đau, thai sản với số tiền chiếm đoạt trên 1,3 tỷ đồng.

- Hợp thức hóa những tai nạn không thuộc diện tai nạn lao động thành tai nạn lao động để hưởng trợ cấp tai nạn lao động hoặc đăng kí tham gia BHXH sau khi đã xảy ra tai nạn để được hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp. Thủ đoạn này luôn có sự cấu kết giữa người lao động và người sử dụng lao động thể hiện ở việc khai báo không trung thực về thời gian, địa điểm xảy ra tai nạn, ngụy tạo hồ sơ để hợp thức hóa các tai nạn rủi ro thành tai nạn lao động, để chiếm đoạn tiền chế độ tai nạn lao động.

- Làm hồ sơ khống để làm thủ tục hưởng chế độ hưu trí cho một số người chưa đủ thời gian tham gia BHXH, như: xác nhận khống thời gian làm việc và tham gia BHXH để làm giải quyết chế độ hưu trí; đề nghị điều chỉnh lại ngày tháng năm sinh tăng lên hoặc giảm xuống theo hướng có lợi cho bản thân khi giải quyết chế độ…

- Thu gom sổ BHXH của người tham gia BHXH đã nghỉ việc mà không nhận lại sổ, sau đó lập hồ sơ BHXH khống, chiếm đoạt tiền BHXH.

Khi người lao động nghỉ việc, doanh nghiệp có trách nhiệm chốt sổ BHXH và trả cho người lao động. Nếu sau 12 tháng, người lao động không đến nhận thì doanh nghiệp trả cho cơ quan BHXH lưu giữ nhằm bảo vệ quyền lợi của họ. Nhưng thực tế, các doanh nghiệp không ý thức chốt và trả sổ; người lao động ít khi nhận sổ sau khi nghỉ việc do thời gian làm việc ngắn hoặc đi xa... Điều này đã tạo điệu kiện cho đối tượng ngoài xã hội thông đồng với doanh nghiệp thu gom, mua sổ BHXH, sau đó làm giả, lập khống hồ sơ BHXH đề nghị hưởng trợ cấp BHXH một lần nhằm chiềm đoạt tiền BHXH.

Ba là, một số thủ đoạn vi phạm pháp luật liên quan quản lý và thực hiện BHXH:

- Y, bác sĩ, dược sĩ, nhân viên khác trong các bệnh viện đã chiếm đoạt thuốc chữa bệnh trong quá trình khám bệnh và cấp phát thuốc bằng các thủ đoạn lập khống toàn bộ hoặc một số chứng từ thanh toán thuốc BHYT.

Trong trường hợp này, tài sản của quỹ BHXH đã chuyển từ dạng tiền tệ sang vật chất và việc quản lý khối tài sản này thuộc trách nhiệm của người chức vụ, quyền hạn trong bệnh viện. Điển hình: Năm 2010, bác sĩ Lưu Tố Lan công tác Bệnh viện Chợ Rẫy, Hồ Chí Minh chiếm đoạt 3,9 tỉ đồng tiền BHYT. Với thủ đọan trên, Lan đã làm giả hồ sơ khám chữa bệnh, kê toa thuốc khống để lấy thuốc theo chế độ BHYT đem bán. Ngoài ra, Lan đã cấu kết cùng nhân viên, bác sĩ bệnh viện tuyến dưới thu gom thẻ BHYT, lấy giấy chuyển viện khống sau đó kê đơn khống lấy thuốc theo BHYT đem bán lấy tiền chia nhau.

- Lợi dụng kí thay, nhận hộ tiền BHXH mà không cần có giấy ủy quyền, người đại diện chi trả đã chiếm đoạt tiền chi trả chế độ BHXH của người được hưởng.

Do ngành BHXH chỉ thiết lập đến cấp huyện, chưa có cán bộ BHXH ở cấp xã nên việc chi trả chế độ BHXH thông qua người đại diện chi trả là Thủ trưởng đơn vị sử lao động hoặc người có chức vụ, quyền hạn ở cấp xã. Điển hình: Vụ án Lạm dụng chức vụ quyền hạn để chiếm đoạt tài sản do ông Nguyễn Mạnh Sửu, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, năm 2014. Năm 1988, ông Cao Hồng Định nhận được văn bản dừng chi trả lương của Quân khu 7 để điều tra một vụ việc khác có liên quan đến ông. Sau đó, cơ quan BHXH tiếp tục chi trả nhưng ông Định không biết. Lợi dụng việc kí thay, nhận hộ lương hưu không cần giấy ủy quyền, ông Sửu đã nhận tiền hưu trí của ông Định nhưng không giao lại cho người được hưởng với số tiền hơn 316 triệu đồng.

- Thủ đoạn cố ý làm trái trong khi thi hành công vụ:

(i) Cấp giấy chứng nhận nghỉ việc, cấp giấy ra viện, giấy khám thai không đúng quy định hoặc cố ý lập sai hồ sơ bệnh án điều trị nội trú cho bệnh nhân có thẻ BHYT. Đây là thủ đoạn của một số bác sỹ tại cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận và cấp các loại giấy tờ nêu trên mà không có người bệnh. Các bác sĩ có thể đưa người nhà vào làm xét nghiệm đắt tiền nhưng lại ghi xét nghiệm đó cho bệnh nhân khác có thẻ BHYT được thanh toán 100 % hoặc kê những đơn thuốc đắt tiền cho những bệnh nhân có thẻ BHYT đang điều trị tại bệnh viện nhưng thực tế lại không sử dụng cho bệnh nhân đó.

(ii) Cấp biên bản giám định tỉ lệ suy giảm khả năng lao động không đúng quy định của lĩnh vực chuyên môn để người tham gia BHXH hưởng chế độ BHXH trái pháp luật. Đây là thủ đoạn của một số bác sĩ của Hội đồng giám định y khoa các cấp có thẩm quyền khám và xác định tỉ lệ suy giảm khả năng lao động không đúng tình trạng thương tật, bệnh tật, mức suy giảm khả năng lao động đối với người được giới thiệu đi giám định khả năng lao động để hưởng các chế độ bảo hiểm tai nạn lao động - nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất… Bằng thủ đoạn này, họ đã tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia các chế độ BHXH hưởng các chế độ BHXH trái pháp luật, gây thiệt hại cho quỹ BHXH.

(iii) Chủ sử dụng lao động xác nhận, chứng nhận khống hoặc xác nhận, chứng nhận không đúng với thực tế một sự việc, mối quan hệ để người lao động hoặc thân nhân hưởng lợi các chế độ BHXH, như: xác nhận hoặc chứng nhận khống về thời gian phục vụ trong lực lượng vũ trang hoặc trong các cơ quan, đơn vị khác để được tính cộng nối thời gian tham gia BHXH đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí; xác nhận hoặc chứng nhận hoặc làm chứng không đúng về thời gian, địa điểm xảy ra tai nạn để được công nhận là tai nạn lao động; xác nhận điều kiện làm việc, kết quả môi trường làm việc không đúng với điều kiện, môi trường thực tế để được xác định là mắc bệnh nghề nghiệp.

Luật sư Phạm Tiến Dũng

Công ty Luật TNHH Everest (Tổng đài tư vấn 1900 6198)