Các tỉnh Tây Nguyên là nhân tố quyết định đưa nước ta trở thành cường quốc xuất khẩu các mặt hàng nông sản càphê, caosu, tiêu. Những con số hàng trăm triệu đôla Mỹ thu được từ xuất khẩu “vàng trắng” (caosu), “vàng nâu” (càphê)... cho thấy tiềm năng vô cùng to lớn về đất đai, khí hậu, con người của vùng đất Tây Nguyên trong công cuộc phát triển kinh tế của cả nước.

Tuy nhiên, số ngoại tệ thu được - hay nói cách khác, giá trị gia tăng và công ăn việc làm từ các loại “vàng” này - sẽ còn tăng cao nhiều lần hơn nữa nếu cách đây mươi, mười lăm năm chúng ta có tầm nhìn xa trong việc quy hoạch, phát triển ngành công nghiệp sau thu hoạch. “Gia Lai đứng đầu khu vực Tây Nguyên với trên 80 nghìn hécta caosu và 80 nghìn hécta càphê, hằng năm đưa về một lượng ngoại tệ lớn từ xuất khẩu các sản phẩm này” – Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Thế Dũng tự hào nói. Nhưng, liền sau đó, ông cũng nêu một con số: Toàn tỉnh hiện còn gần 35% số hộ nghèo, cận nghèo theo tiêu chí mới. Vì sao làm ra “vàng” mà vẫn còn nghèo khó? Câu hỏi này vang lên với nhiều trăn trở và bức xúc hơn là sự truy tìm lời giải. Cho đến nay, các nông sản caosu, càphê hầu hết đều xuất khẩu thô, trong đó caosu chỉ mới được xuất dưới dạng mủ ép thành cốm, với rất nhiều rủi ro tiềm ẩn từ giá cả cho đến phương thức thanh toán. Tại sao cả một vùng Tây Nguyên giàu có “vàng trắng” như vậy, mà đến tận hôm nay vẫn chưa có nổi một nhà máy tiêu thụ mủ caosu cốm để làm ra thành phẩm? Đó là kết quả của sự hạn chế về tầm nhìn, chứ không phải do nguồn lực. Tại một đơn vị anh hùng lao động (2010) về trồng cây caosu ở Gia Lai – Công ty 74 (Binh đoàn 15), nơi có 50% trên tổng số lao động là người các dân tộc thiểu số và tạo ra doanh thu 600 tỉ đồng/năm – cho thấy một mô hình giảm hộ nghèo, tăng hộ giàu ở Tây Nguyên bài bản và nhiều kỳ vọng. Gần 3.000 hộ đồng bào các dân tộc ở Gia Lai trở thành công nhân caosu với thu nhập khá, được sống trong không gian quy hoạch điện - đường - trường - trạm đầy đủ và chất lượng. Nơi đây có một nhà máy chế biến mủ caosu công suất 10 nghìn tấn/năm. Mô hình này đã tạo ra một lực lượng lao động có điểm xuất phát thấp với những tập quán canh tác và thói quen sinh hoạt tùy tiện, trở thành một đội ngũ lao động có kỷ luật, kỹ thuật và lòng ham muốn làm giàu. Để giảm con số 35% hộ nghèo, mô hình “Công ty 74” cần được xem là một gợi ý về hướng đi tích cực. Nhưng, nếu vẫn chỉ dừng lại ở cái nhà máy ép mủ caosu thành cốm rồi đem bán như lâu nay vẫn làm thì có lẽ còn lâu mới giảm được tỉ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới xuống dưới 30%. Bao giờ mới thôi xuất khẩu thô các loại “vàng” nông sản? Có vẻ như đang thiếu vắng những tư duy, cách làm kiểu như càphê Trung Nguyên để “vàng” nông sản của Việt Nam mang lại những giá trị gia tăng lớn hơn và công ăn việc làm nhiều hơn. Nhưng, không thể ngồi chờ các doanh nhân “ngẫu hứng” hoặc “máu lên” như ông chủ càphê Trung Nguyên được, phải hoạch định và thực thi ngay những chiến lược cụ thể về xây dựng, phát triển ngành công nghiệp sau thu hoạch đối với các nông sản nói chung và “vàng trắng” caosu nói riêng. LÂM CHÍ CÔNG