ND- Thực hiện Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực từ năm 2007, công tác đưa người lao động đi nước ngoài (XKLĐ) đã đạt những kết quả đáng mừng. Thị trường XKLĐ ngày càng được mở rộng, như Ma-lai-xi-a, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (TRUNG QUỐC), Các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất (UAE)...

Thành công và những hạn chế Hiện nay có hơn 500 nghìn lao động Việt Nam làm việc theo hợp đồng ở 40 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, với khoảng 90 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài mỗi năm. Nhiều đối tác đánh giá cao về lao động Việt Nam như hiền lành, chịu khó, thông minh, hầu hết là những người đã qua thực tiễn lao động trong nước, có ý thức chấp hành pháp luật... Hằng năm, người lao động đã tiết kiệm gửi về nước qua ngân hàng khoảng hai tỷ USD. Nguồn thu nhập từ XKLĐ đã góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân và thay đổi bộ mặt nông thôn. Tại nhiều địa phương, có tới 70% số nhà kiên cố, cao tầng khang trang được xây dựng từ tiền đi XKLĐ, hơn 90% số lao động cho rằng đã thành công trong XKLĐ và hài lòng khi về nước. Nhiều xã vùng khó khăn có tới 10% số nhân khẩu đi XKLĐ, mỗi tháng gửi về hàng chục tỷ đồng. Số tiền này đã trở thành thu nhập chính của nhiều gia đình. Mặc dù được nhiều thị trường đánh giá cao, nhưng sức cạnh tranh của lao động Việt Nam còn chưa cao, chủ yếu cạnh tranh do mức lương thấp, công việc nặng nhọc, lao động Việt Nam vẫn tập trung ở những thị trường mà lao động các nước khác không muốn đến. Do sức ép phải hoàn trả chi phí bỏ ra trước khi XKLĐ, nhiều lao động bỏ hợp đồng ra ngoài làm để có thu nhập cao hơn, hoặc bỏ trốn sau khi kết thúc hợp đồng. Tại thị trường Nhật Bản, thị trường có mức thu nhập cao nhất hiện nay (từ 15 đến 20 triệu đồng/tháng), có thời điểm do tỷ lệ tu nghiệp sinh bỏ trốn, sống bất hợp pháp cao, khiến nhiều xí nghiệp, nghiệp đoàn không muốn nhận tu nghiệp sinh Việt Nam, thậm chí không cấp visa cho tu nghiệp sinh Việt Nam vào tu nghiệp tại những xí nghiệp đã có người bỏ trốn. Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ vay vốn đối với người có nhu cầu XKLĐ nhưng người dân khó tiếp cận hoặc không muốn tiếp cận với nguồn vốn này do thủ tục rườm rà, lượng vốn vay thấp. Công tác đưa người lao động đi nước ngoài của một số doanh nghiệp còn rất nhiều bất cập như thu tiền lệ phí quá cao, doanh nghiệp khoán trắng cho các trung tâm và tuyển lao động thông qua môi giới nhiều hơn tuyển trực tiếp. Nhiều lao động đã phải chi phí cao gấp từ hai đến ba lần so với quy định để đi lao động nước ngoài. Đặc biệt, tình trạng "đem con bỏ chợ" vẫn còn xảy ra ở một vài doanh nghiệp khiến người lao động "tiền mất tật mang". Một số tổ chức, cá nhân không có chức năng nhưng vẫn đưa người lao động đi xuất khẩu. Theo khảo sát, từ tháng 7-2007 đến tháng 6-2009, trong số 164 doanh nghiệp được cấp phép XKLĐ, chỉ có 81 doanh nghiệp đưa được 500 lao động đi xuất khẩu, 54 doanh nghiệp đưa được 1.000 lao động, 16 doanh nghiệp đưa được 100 lao động, đặc biệt có 29 doanh nghiệp không đưa được lao động nào đi xuất khẩu. UAE, một thị trường lao động rộng lớn của thế giới với 90% số lao động nước ngoài, hiện có hơn 50 doanh nghiệp Việt Nam đưa lao động sang UAE, nhưng chỉ có 18 doanh nghiệp đưa được hơn 100 lao động sang làm việc, số còn lại đưa không đáng kể hoặc không đưa được lao động đi. Theo Cục Quản lý lao động nước ngoài, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ-TB và XH), hiện chưa có hệ thống đánh giá toàn diện như thế nào là doanh nghiệp đưa lao động đi xuất khẩu có hiệu quả hay chưa có hiệu quả, chủ yếu đánh giá kết quả của doanh nghiệp theo tiêu chí đưa nhiều lao động và ít vi phạm. Theo tiêu chí này, đến nay chỉ có 30% số doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Chấn chỉnh bằng cách nào? Xác định XKLĐ tiếp tục là một bộ phận cấu thành trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, trong thời gian tới Nhà nước sẽ tiếp tục có những chính sách nhằm đẩy mạnh XKLĐ, phấn đấu mỗi năm đưa 100 nghìn người đi XKLĐ, nhất là người lao động tại các địa phương nghèo, hộ nghèo. Theo Cục Quản lý lao động nước ngoài, hiện nay ở một số huyện nghèo đang thực hiện thí điểm mô hình hỗ trợ tiền ăn, ở, dạy nghề cho người đi XKLĐ. Mô hình này đã mang lại kết quả cao và sẽ nhân rộng ra cả nước. Nhiều chính sách vay vốn ưu đãi đối với các hộ nghèo, hộ chính sách, vùng sâu, vùng xa đi XKLĐ góp phần xóa đói, giảm nghèo sẽ tiếp tục được cải thiện. Hiện nay, ngân hàng đã cho vay đối với người XKLĐ mức cao nhất là 30 triệu đồng/người. Các ngành chức năng đang xem xét nâng mức vay và giảm bớt thủ tục trong việc vay vốn. Trước sự nhiễu loạn của các trung tâm, chi nhánh tuyển lao động xuất khẩu, dẫn đến những tiêu cực hiện nay, nhiều doanh nghiệp kiến nghị, các ngành chức năng cần sàng lọc những doanh nghiệp nhỏ, hoạt động kém hiệu quả, chỉ để lại khoảng 50 doanh nghiệp được cấp phép XKLĐ và mỗi doanh nghiệp chỉ được lập một chi nhánh. Đối với những doanh nghiệp được cấp phép, sau một năm không đưa được lao động đi xuất khẩu thì thu hồi giấy phép. Bên cạnh hỗ trợ về vay vốn, ngành LĐ-TB và XH cần tăng cường phối hợp ngành giáo dục tổ chức đào tạo những nghề khó, thợ tay nghề cao, có tính đặc thù mà thị trường đang cần, đào tạo theo địa chỉ cụ thể, đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường. Các cơ quan ngoại giao tăng cường phối hợp và đưa ra dự báo về biến động thị trường XKLĐ để định hướng cho các doanh nghiệp, nhất là việc mở rộng thị trường mới. Nguyễn Văn Thái