(PL&XH) -Những người thợ mỏ nhuộm than đen từ lò sâu bước ra, đầu đội mũ bảo hộ vàng, vai vác búa,chân đi ủng cao,những vất vả hằn sâu lên khuôn mặt, nhưng hơn cả là đôi mắt lấp lánh diệu kì và nụ cười rạng ngời hạnh phúc,lạc quan và yêu đời

“Âm ba lăm độ sâu, chúng tôi đi vào trong lòng đất. Âm ba lăm độ sâu, những bước đi chuyển rung núi đồi. Nắng hay gió, suối hay khe đều ở cả trên đầu. Càng xuống thấp càng nhiều gian khó thử thách lòng chúng ta… Ngàn con mắt than đen lấp lánh mà e thẹn lắm sao…”. Trên thế giới này chắc không có công việc nào mà người công nhân lại dành trọn gần nửa cuộc đời mình dưới lòng đất sâu thẳm như nghề thợ mỏ. Những người thợ lò, họ chính là những người làm ra vàng đen cho Tổ quốc, giữ lửa ấm cho từng mái nhà và góp phần mang ánh điện thắp sáng muôn nơi.

Thợ lò là nghề “ăn dương gian, làm âm phủ”, những người thợ vẫn nói vui như thế về công việc của mình, nghe qua cũng thấy được đôi phần gian nan, vất vả. Công trường khai thác than thường làm việc 24/24g, người thợ lò có 3 ca làm việc bắt đầu từ sáng, trưa hoặc tối. Những lò khai thác than hiện nay càng ngày càng phải vào sâu hơn, các anh thường phải làm việc ở độ sâu 200 – 300m trong áp suất lớn và hiếm khí. Để đưa được từng xe than dưới lòng đất lên, thực sự đó là một quá trình lao động miệt mài và nghiêm túc bởi hai chữ nguy hiểm lúc nào cũng theo sát các anh mỗi khi vào lò sâu. Có sống ở vùng đất mỏ mới thấu hiểu hết những gian khó, nhọc nhằn của nghề thợ lò. Ở nơi đất mỏ, mỗi nhà thường có 2-3 người gắn cuộc đời với than đen. Vậy nên, mỗi khi các anh vào lò là mang theo cả những lo lắng của người thân.

Công cuộc chinh phục lòng đất khó khăn là thế nhưng nghề thợ lò cũng đến lạ. Như người ta vẫn nói “mưa dầm thấm lâu”, không người thợ nào vì yêu than mà chọn nghề thợ lò nhưng rồi lại vì yêu nghề mà gắn bó với mỏ. Những con đường hầm sâu hun hút ấy cứ đi thẳng vào tim các anh không biết tự bao giờ, để trót đi vào lò sâu rồi sẽ gắn bó và cống hiến suốt cả cuộc đời lao động. Đối với người thợ lò chân chính, đôi bàn tay chai sạn đen kịt, những lớp bụi than theo năm tháng cuộc đời, đôi mắt đỏ hoe sau những đêm trường làm lụng chính là huân chương nghề cao quý nhất. Và phần thưởng cho những nỗ lực làm việc không mệt mỏi của các anh đơn giản là cuộc sống gia đình ổn định, đủ cái ăn cái mặc, con cái được đến trường học hành.

Những người thợ mỏ nhuộm than đen từ lò sâu bước ra, đầu đội mũ bảo hộ vàng, vai vác búa, chân đi ủng cao, những vất vả hằn sâu lên khuôn mặt, nhưng hơn cả là đôi mắt lấp lánh diệu kì và nụ cười rạng ngời hạnh phúc, lạc quan và yêu đời. Cha tôi cũng là một người thợ lò. Tôi còn nhớ như in cảm giác nhói buốt trong lòng khi nhìn dáng cha gầy guộc, khoác chiếc áo bạc màu, đôi mắt đỏ hoe vì thiếu ngủ ngồi chờ xe ca đi làm giữa đêm đông buốt giá. Công việc nặng nhọc và những tai nạn nghề nghiệp trong cuộc đời người thợ không ít nhưng chưa một lần cha nghĩ đến chuyện bỏ nghề, ngay cả trong lúc ngành than khó khăn nhất. Tôi biết đó chính là tình yêu với lòng đất. Cho đến tận bây giờ ngay cả khi đã về hưu, mỗi lần họp đồng nghiệp, cha như tìm về với niềm vui xưa và tôi lại được thấy ánh mắt lấp lánh sau bụi than đen năm nào.

Nghề thợ lò thiêng liêng và cao quý, nơi ấy luôn có những người chiến sĩ quả cảm dám thách thức và chấp nhận thử thách từ lòng đất đen tối. Mỗi tiếng chân bươ vào lò, mỗi tiếng búa tìm dòng than đen như tiếng cười hân hoan gửi đến lòng đất, băng qua lòng đất và cứ như thế ngân vang mãi khúc tráng ca về người chiến sĩ âm thầm-những người thợ mỏ anh hùng. Nụ cười lạc quan ấy, bất chấp khó khăn ấy đã nuôi dưỡng tuổi thơ tôi và biết bao đứa con của đất mỏ, để tâm hồn chúng tôi cũng được lấp lánh những ước mơ, được biết thế nào là sống và cống hiến hết mình trong công việc, trở thành những con người lao động chân chính xây dựng quê hương tốt đẹp hơn.

Phan Phan