Thủy thủ đoàn tàu Phương Đông 1 - chuyến tàu đầu tiên cập bến Vàm Lũng (Ca Mau) thành công.

Huyền thoại ấy, bắt đầu từ biển.

Cái mốc 50 năm chỉ là để đánh dấu một quá trình hoạt động liên tục của hành trình vận tải tiếp viện cho miền nam trong những năm chống Mỹ. Nhưng điểm khởi đầu của ý tưởng táo bạo: dùng đường biển để tiếp viện cho khu vực miền đông và Tây Nam Bộ đang rất thiếu thốn về vũ khí, trong khi đường mòn trên bộ 559 chưa đủ sức vươn xa, thì đã được manh nha từ tháng 7-1959, chỉ sau khi con đường mòn trên bộ được khởi động hai tháng.

Không được nhắc nhớ nhiều, nhưng chính những con người quả cảm đã đi chuyến biển đầu tiên đầy rủi ro ấy, bằng chính sự hy sinh của mình, để góp phần tìm ra phác thảo hợp lý cho những hải trình sau này của đồng đội. Ra đi từ tháng 1-1960, bốn người đã hy sinh, một người bị địch bắt, bị tù đày ra tận Côn Đảo, và phải đến năm 1974 mới được trao trả.

Rồi những người cộng sản của các tỉnh miền Tây Nam Bộ, những nơi được chọn đưa các chuyến tàu từ Nam ra Bắc, để báo cáo tình hình tìm phương án đưa tàu từ Bắc vào Nam. Họ ra đi trên những chiếc thuyền rất thô sơ, mỏng mảnh như chiếc lá mà đã vượt cả những chặng biển dài đầy sóng gió. Hào hứng, hăng hái lên đường, dẫu ai cũng biết rằng, phía trước là gian khó, là muôn ngàn hiểm nguy và có thể là... cái chết. Hẳn kẻ thù sẽ không bao giờ hiểu được, vì sao những người cộng sản nhỏ bé, với trang bị hết sức thô sơ, lại dám làm, và làm được những điều phi thường đến thế.

Sự kỳ vĩ của huyền thoại biển đang làm ngỡ ngàng cả chính những con người hiện đại, được tạo tác bởi lòng quả cảm vô song của những con người, cho đến hôm nay, vẫn còn một phần không nhỏ, vô danh. Lịch sử đã chọn họ để gửi gắm sứ mệnh cao cả. Có thể chính họ, những thủy thủ 'đoàn tàu không số', bằng lòng dũng cảm phi thường, ý chí và sự sáng tạo, cùng những chiến sĩ dũng cảm nơi bến bãi... không ý thức đầy đủ về sứ mệnh cao cả mà mình đang gánh vác. Mỗi chuyến đi trong cái hải trình táo bạo ấy là một chặng dài đối mặt với muôn ngàn hiểm nguy: sóng dữ, gió to, tàu giặc rình rập... trên là trời cao, dưới là biển sâu, đất liền thì ở xa, xa lắm...

Một đồng nghiệp lớp trước, người đã trải một thời hoa lửa, có lần chia sẻ với tôi rằng anh đã từng được đồng đội truy điệu sống trước giờ lên 'cửa mở'. Đêm đó anh không ngủ. Anh biết, sáng mai mình sẽ hy sinh. Bởi hai lần tiến công trước đó, mũi đánh 'cửa mở' đều bị quân địch chặn đứng, hy sinh đến 80% quân số. Nhưng anh biết mình không thể thoái thác nhiệm vụ - vì danh dự. Cơ may của chiến tranh đã giúp anh trở về với hòa bình. Nhưng đó là khoảnh khắc không thể nào quên trong đời một người lính, trong đời một con người!

Trong các cuộc trò chuyện mà tôi đã may mắn được gặp với nhiều cựu chiến binh, những người từng vào sinh ra tử, đã không ít lần đối diện với cái chết. Tôi thường tự hỏi: Giây phút đó, họ đã nghĩ gì. Cũng có lần, không kìm được, câu hỏi đó đã bật lên thành lời. Họ chỉ cười. Trong phút giây chọn lựa sự sống - cái chết, liệu có kém hào hùng đi chăng, khi xuất phát điểm là danh dự?! Bởi vì, những người đã biết trọng danh dự hơn mạng sống của chính mình, chắc chắn, cũng là những người thiết tha yêu Tổ quốc, yêu chân lý, yêu cái thiện.

Họ là những người lính, và họ hiểu, mình đang chiến đấu vì Tổ quốc.

Trong công trình nghiên cứu nổi tiếng của mình về 'Năm đường mòn Hồ Chí Minh', cố GS Đặng Phong đã đưa ra một phép so sánh: Một chuyến tàu biển có thể đưa được 100 tấn vũ khí từ miền bắc vào tận mũi Cà Mau chỉ trong một tuần đến 10 ngày. Trong khi, để làm được việc đó, một trung đoàn bộ binh phải đi trong một tháng. Và sự hy sinh, nếu có - trên đường biển, vẫn thấp hơn so với tỷ lệ ấy trên hàng nghìn cây số đường mòn trên bộ.

Một phép so sánh với cán cân hiệu quả lệch hẳn về phía con đường trên biển. Chỉ có điều, nếu đem lên bàn cân những tỷ lệ rủi ro chia đều cho mỗi người chiến sĩ trên 'con đường mòn' phía biển, lại là một điều khác. Để thấy, có lẽ không phải là nói quá lên rằng: mỗi thủy thủ trên đoàn tàu không số ấy đều là một Anh hùng.

Năm tháng vẫn trôi. Để giờ đây, dưới góc nhìn của những con người Việt Nam thời hiện đại, tầm vóc, sự vĩ đại của những hải trình táo bạo ấy, của những con người phi thường ấy, dường như càng trở nên kỳ vĩ, và đáng kính phục. Để, thấy tự hào về bản lĩnh của mỗi con người Việt Nam, khi đã cháy lên trong tim tình yêu Tổ quốc.

Năm tháng vẫn trôi. Dù những chiến sĩ 'tàu không số' năm xưa, những chiến sĩ lặng thầm trong nhiều bến bãi dọc miền Tây Nam Bộ, mái đầu đã bạc, cũng đã không tránh khỏi cuộc bon chen vất vả để mưu sinh như những người dân bình thường trong một xã hội hiện đại. Tôi vẫn tin rằng, bởi những năm tháng ấy đầy khốc liệt, đầy những cảnh huống hiểm nguy buộc mỗi con người phải tự vượt lên chính họ, và vì thế, mà trở nên đáng sống. Liệu trong họ, có thật sự bình yên? Hay chính những con sóng năm xưa vẫn luôn vầy vỗ, vẫn luôn nhắc nhớ về một thời hào hùng hoa lửa, đầy hiểm nguy nhưng sáng rực niềm tin về lý tưởng chiến đấu bảo vệ quê hương, Tổ quốc mình!

Với rất nhiều người, Đất nước vẫn đang mắc nợ họ. Nhưng, tôi cũng tin rằng, họ vẫn giữ niềm lạc quan, bởi Tổ quốc sẽ chẳng bao giờ quên những người con ưu tú đã sẵn sàng hiến dâng cả mạng sống của mình. Như sự tri ân đầy ngưỡng mộ, dẫu đã 50 năm, trong những ngày này!

Lịch sử dân tộc, trong cái khúc quanh đầy đau thương, bi tráng của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại ấy, đã được viết nên bởi những con người Việt Nam bình thường - họ rất thật, như tôi, như bạn vậy, nhưng đã trở nên phi thường - như huyền thoại, khi được hun đúc bằng ý chí, bằng tình yêu Đất Mẹ.

Nữ văn sĩ D. Bla-ga, khi đến thăm Việt Nam, đã nhận xét rằng: 'Ở xứ sở này, thật khó phân biệt đâu là huyền thoại, đâu là lịch sử'. Huyền thoại là nơi ôm chứa những điều phi thường, đó có thể là ước mơ, cũng có thể là một phần lịch sử.