Một báo cáo mới đây trong khuôn khổ Dự án Quản trị nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện (GIG) cho thấy đáng lẽ 100% số văn bản quy định chi tiết phải ra đời và có hiệu lực cùng với thời điểm thực thi luật, pháp lệnh thì thực tế các cơ quan quản lý chỉ ban hành được 5,47% số văn bản theo quy định.

Luat chu yeu de “treo” - Anh 1

Quốc hội khóa XIII bấm nút thông qua nhiều luật, nhưng rất ít luật được hướng dẫn, có quy định để thực thi - Ảnh:TL

Báo cáo này nhằm hỗ trợ cho các chuyên gia độc lập và chuyên gia của Bộ Tư pháp hoàn tất báo cáo “Đánh giá thực trạng - tác động của việc ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh”. Mục tiêu của Dự án - được tổ chức USAID của Hoa Kỳ hỗ trợ - là nhằm giúp Chính phủ Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng toàn diện và bền vững qua việc hỗ trợ các sáng kiến cải cách luật pháp và thể chế quan trọng.

Chỉ có 5,47% văn bản đúng tiến độ

Đây là một con số cực thấp so với quy định đặt ra và so với đòi hỏi thực tiễn. Bởi luật, nghị định hay các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ ra đời mà không có hướng dẫn thì các cơ quan điều hành ở dưới hoặc không có cơ sở thực hiện, hoặc không thực hiện, hoặc diễn giải theo các cách khác nhau, gây khó cho người dân và doanh nghiệp.

Bám sát mục tiêu của Dự án là hỗ trợ Chính phủ Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng toàn diện và bền vững, Hội nghị được tổ chức nhằm trao đổi và xây dựng một tầm nhìn chiến lược chung cho Dự án, chia sẻ các bài học thực tiễn từ những sáng kiến cải cách luật pháp và thể chế gần đây, đồng thời xác định những cơ hội tốt nhất để Dự án có thể hỗ trợ các sáng kiến cải cách quan trọng.

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ rằng: “văn bản quy định chi tiết phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều khoản, điểm được quy định.” Nhưng thực tế thì sao?

Báo cáo của GIG cho biết, theo kết quả rà soát trong năm 2012, không có văn bản quy định chi tiết nào được ban hành có hiệu lực cùng thời điểm với luật, pháp lệnh, trong khi cần có 22 văn bản hướng dẫn phải ra đời. Năm 2013 chỉ có 6/194 văn bản có hiệu lực cùng thời điểm với luật, pháp lệnh (đạt 3,09%). Năm 2014 có 7/108 văn bản có hiệu lực cùng thời điểm (6,48%). Năm 2015 có 14/156 văn bản được ban hành kịp thời ( đạt 8,97%).

Con số lần đầu được công bố cho thấy vì sao ở nước ta, cho dù có luật hoặc luật có quy định nhưng không cụ thể, thiếu hướng dẫn thì cũng là những văn bản luật “treo”. Chính báo cáo này khẳng định thực trạng ban hành văn bản pháp luật kiểu này được gọi là luật “treo”, khó có thể đi vào cuộc sống, thậm chí còn làm “tắc nghẽn” dòng chảy thực thi pháp luật.

Báo cáo này dành toàn bộ nội dung làm luật và giám sát việc làm luật trong suốt 4 năm của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII (2011-2015) để rà soát. Đây cũng là thời điểm mà Quốc hội, Chính phủ ban hành các văn bản, nghị định về việc theo dõi tình hình thực thi pháp luật và kiểm soát thủ tục hành chính. Việc theo dõi thực thi được chuyển từ Văn phòng Chính phủ sang Bộ Tư pháp. Sở dĩ phải làm quyết liệt như vậy vì tình trạng nợ đọng văn bản ngày càng nhiều, dẫn đến luật không đi vào cuộc sống.

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII phải xây dựng 156 dự án luật, pháp lệnh và thông qua 99 dự án luật, pháp lệnh. Trong đó, Chính phủ phải trình 89 luật, pháp lệnh (từ tháng 11-2011 đến tháng 10-2015). Kèm theo đó Chính phủ, bộ, các cơ quan ngang bộ cần xây dựng, ban hành 493 văn bản quy định chi tiết các loại (nghị định, quyết định của Thủ tướng, Thông tư…).

Nếu tính đến trung tuần tháng 11 này, Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ phải hoàn thành 407 văn bản, đồng thời tiếp tục xây dựng 86 văn bản khác. Nhưng đến nay Chính phủ còn nợ 86 văn bản. Trong số này có những văn bản sẽ phải có hiệu lực từ ngày 1-1-2016

Hiện nay, trong số 86 văn bản còn nợ, Chính phủ, các bộ đã hoàn tất được 3/86 văn bản (hai nghị định, một thông tư) quy định chi tiết Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật bảo hiểm xã hội, Luật căn cước công dân đảm bảo có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật (ngày 1-1-2016). Còn 83/86 văn bản (31 nghị định, 04 quyết định, 46 thông tư, 02 thông tư liên tịch) vẫn đang được các bộ, cơ quan ngang bộ để đó.

Rà soát cho thấy 79 luật, pháp lệnh đã có hiệu lực đều không có đủ văn bản quy định chi tiết. Nhiều văn bản đã chậm tiến độ từ 16 đến 40 tháng.

Nhà nước thất thu, doanh nghiệp bó tay

Theo đánh giá trong báo cáo này, khoảng thời gian “trễ” từ khi luật, pháp lệnh có hiệu lực thi hành đến khi nghị định, thông tư được ban hành đã ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích của người dân và doanh nghiệp, cũng như hoạt động quản lý nhà nước. Chẳng hạn, việc chậm trễ ban hành Nghị định số 203/2013/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản quy định chi tiết và hướng dẫn Luật khoáng sản năm 2010 (chậm ban hành 28 tháng) đã ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của doanh nghiệp trong việc nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định của Luật khoáng sản.

Luật khoáng sản năm 2010 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-7-2011. Trong đó có quy định: “kể từ ngày Luật này có hiệu lực, tổ chức, cá nhân đang thực hiện theo giấy phép khai thác được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực phải nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với phần trữ lượng khoáng sản chưa khai thác.”

Việc chậm ban hành nghị định của Chính phủ đã làm cho quy định của Luật khoáng sản năm 2010 thành “quy định treo” trong khoảng thời gian từ ngày 1-7-2011 đến ngày 20-1-2014. Mặt khác, theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp khai thác khoáng sản thì doanh nghiệp đã quyết toán năm, công bố lỗ - lãi, nộp các khoản thuế và đã phân chia lợi nhuận của các năm 2011, 2012 và 2013. Do đó, việc truy thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với phần trữ lượng khoáng sản chưa khai thác trước ngày 20-1-2014 là khó khả thi.