(ANTĐ) - Sau hơn 20 năm đổi mới, bộ mặt nông thôn đã “thay da đổi thịt” trông thấy. Điện, đường, trường, trạm đã “phủ sóng” từ đồng bằng, ven biển đến miền núi. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới này chưa thực sự mang lại những đổi thay mang giá trị kinh tế sâu sắc. So với mục tiêu thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam trong năm 2010 là 1.200 USD/người/năm, thì mức thu nhập của nông dân trồng lúa vẫn còn quá thấp so với mức trung bình của cả nước.

Hạt gạo vẫn là “gốc” và nền tảng để nông dân thoát nghèo. Để làm điều này, không còn cách nào khác là nâng giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường thế giới. Sau đổi mới trong suốt 10 năm, sản lượng lúa bình quân của nước ta tăng 1 triệu tấn/năm, nhưng thu nhập của nông dân tính trên 1 hecta vẫn dậm chân ở mức 1.100 – 1.300 USD/ha/năm. Thu nhập vẫn dừng ở mức 700 USD/hộ/năm, thu nhập của người trồng lúa còn thấp hơn chỉ là 470 USD/hộ/năm. Trước kia, ở Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích canh tác mỗi hộ đạt khoảng 1ha. Còn hiện nay diện tích đất đã giảm xuống 0,7ha/nông hộ. Ở đồng bằng sông Hồng con số còn thấp hơn. Hiện nay, trong chuỗi giá trị lợi nhuận thu được từ hạt gạo, người nông dân chỉ được hưởng 13%. Tỷ lệ này quá “rẻ rúng” so với công sức một nắng hai sương mà nông dân bỏ ra. Đáng quan ngại là hơn 87% lợi nhuận trong chuỗi giá trị của hạt gạo rơi vào túi tầng lớp trung gian. Cho dù giá gạo đã tăng trong suốt hơn chục năm qua, hiện trung bình là 4.000 đồng/kg, so với cách nay 5 năm là 3.000 đồng thì thu nhập của nông dân cũng không tăng kịp theo giá cả các mặt hàng tiêu dùng trong thời gian qua. Việt Nam tự hào là nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới, nhưng vì sao bà con nông dân vẫn không có được cuộc sống ổn định, thảnh thơi như nông dân Thái Lan? Viện trưởng Viện Nghiên cứu nông nghiệp miền Nam, người đã hơn 30 năm gắn bó với đồng ruộng, nặng lòng với nông dân, đặt câu hỏi này. Dù các nhà khoa học đã nghiên cứu, thử nghiệm nhiều mô hình cũng như cơ quan quản lý nhà nước đã đưa ra nhiều giải pháp để nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam. Song, theo ông giáo sư Viện trưởng: “Vấn đề cốt lõi nhất là chúng ta vẫn chưa có một chiến lược lâu dài cho ngành xuất khẩu gạo”. Ở Thái Lan, cách đây 10 năm, chi phí khuyến nông cho mỗi nông hộ lên đến 40 USD, còn ở Việt Nam hiện chi trung bình mỗi năm chỉ gần 9.000 đồng/nông hộ. Nước này đã thành lập Cục Lúa gạo chuyên nghiên cứu, hỗ trợ phát triển ngành sản xuất lúa, gạo. Ở một trung tâm lúa gạo của Thái Lan, giá gạo được niêm yết từng ngày. Nông dân có thể gửi lúa ở kho miễn phí, chờ giá được thì bán. Ở nước họ có cả hệ thống lớn kho trữ lúa gạo trong nhiệt độ thích hợp, sấy lúa tự động và hút ẩm. Ở nước ta, bao đời nay, nông dân vẫn trữ lúa tại nhà, che bạt tránh mưa, kê gạch tránh ẩm ướt, do nhiệt độ thay đổi nên hạt gạo bị nứt. Vì vậy, tỷ lệ gạo nguyên của ta luôn thấp dưới 40%, còn của Thái Lan lên đến 70%. Ở nước ta, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch lên đến 14%, ở Thái Lan chỉ là 3-5%. Vấn đề “sống còn” đối với hạt gạo là các cơ quan quản lý của Thái Lan luôn đặt quyền lợi của nông dân lên hàng đầu. Cùng chung tâm trạng với các nhà khoa học nông nghiệp, ông Viện trưởng Viện Nghiên cứu nông nghiệp cho rằng, chúng ta đang mắc nợ không biết bao giờ trả hết cho bà con nông dân. Trăn trở và lo âu bởi tình trạng đáng báo động là lao động nông nghiệp ngày càng già đi. Người trẻ không thiết tha với đồng ruộng, diện tích đất trồng lúa đang bị co hẹp dần. Trong khi đó, chỉ có khoảng 10% nông dân giỏi tính toán, làm ăn, còn phần lớn vẫn theo tập quá cũ, làm theo tâm lý đám đông. Cho nên nông sản làm ra nhiều không tiêu thụ nổi. “Điệp khúc” được mùa rớt giá do cung vượt cầu diễn ra triền miên, nông dân không đói nhưng vẫn nghèo. Để “trả” dần món nợ cho nông dân, theo các nhà khoa học nông nghiệp, Nhà nước, các cơ quan quản lý cần phát huy mạnh hơn nữa vai trò định hướng và tổ chức lại sản xuất cho nông dân. Hàng triệu nông dân đều khát khao thoát nghèo, nhưng bản thân họ không thể tự làm được.