(Chinhphu.vn) - Mặc dù ngành thủ công mỹ nghệ có kim ngạch xuất khẩu không cao so với nhiều mặt hàng khác nhưng lại mang về nguồn ngoại tệ có một tỷ trọng rất cao trong kim ngạch xuất khẩu của mình.

Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) có tốc độ tăng trưởng khá cao trong những năm qua, bình quân khoảng 20%/năm, giải quyết việc làm cho khoảng 1,3 triệu người. Trong năm 2009, xuất khẩu hàng TCMN đạt gần 900 triệu USD. Còn trong 8 tháng năm 2010, một số mặt hàng như mây tre đan xuất khẩu đạt 135 triệu USD, gốm sứ hơn 200 triệu USD... Ngành hàng có tỉ suất lợi nhuận cao Mặc dù ngành TCMN có kim ngạch xuất khẩu không cao so với nhiều mặt hàng xuất khẩu khác, nhưng hàng mỹ nghệ lại mang về cho đất nước nguồn ngoại tệ có một tỷ trọng rất cao trong kim ngạch xuất khẩu của mình, có những mặt hàng TCMN hầu như đạt 100% giá trị xuất khẩu, còn lại cũng đạt trên 80% giá trị kim ngạch xuất khẩu. Cứ 1 triệu USD xuất khẩu của ngành TCMN thì lãi gấp 5-10 lần so với ngành khai thác; giải quyết việc làm từ 3 đến 5 ngàn lao động. Do vậy, nhóm hàng TCMN được xếp vào nhóm sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu lớn và có tỉ suất lợi nhuận cao. Sản xuất hàng TCMN có vai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, là ngành nghề thu hút nhiều lao động tham gia làm hàng xuất khẩu, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn. Hiện cả nước có hơn 2.000 làng nghề khác nhau với hơn 1,3 triệu lao động trong ngành TCMN và có khoảng 1.120 doanh nghiệp xuất khẩu hàng TCMN. Mặc dù vậy, hàng TCMN xuất khẩu của Việt Nam vẫn đang đứng trước những thách thức về chất lượng và thị trường. Có thể thấy các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư quá ít cho nghiên cứu thị trường, nhất là thị trường dành riêng cho tạo mẫu và thiết kế. Vì thế, rất nhiều hàng thủ công Việt Nam không có những công dụng rõ rệt và chưa hướng vào một thị trường cụ thể để chiếm lĩnh nó. Thứ hai, nghèo nàn về kiểu dáng, mẫu mã và chủng loại. Hiện nay, khoảng 90% các sản phẩm TCMN xuất khẩu được sản xuất theo mẫu thiết kế của nước ngoài đặt hàng. Điều này sẽ giải quyết tốt đầu ra sản phẩm nhưng về lâu dài sẽ làm “thui chột” các ý tưởng sáng tạo của người nghệ nhân và các thợ nghề, mà hiệu quả thực thu lại thấp. Một sản phẩm có mẫu mã đẹp, kiểu dáng độc đáo có thể đem lại gấp 4 lần giá trị so với mẫu mã thông thường. Theo Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, quy mô sản xuất của các làng nghề, cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ đa số là nhỏ, lẻ. Không những thế, sự thiếu liên kết, hợp tác giữa các cơ sở đã dẫn tới việc không đủ khả năng đáp ứng các đơn hàng lớn. Để hướng tới sự phát triển bền vững Để mở rộng thị trường xuất khẩu đưa sản phẩm TCMN phát triển bền vững hướng tới mục tiêu xuất khẩu 1,5 tỷ USD hàng TCMN trong thời gian tới, các chuyên gia trong ngành đưa ra những giải pháp. Thứ nhất, DN sản xuất hàng TCMN nên chủ động liên kết lại xây dựng làng nghề hoặc cụm sản xuất TCMN. Mỗi cụm hay làng nghề có thể do 5-10 doanh nghiệp cộng tác thành lập, hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh như chia sẻ các hợp đồng lớn hoặc phân công phân khúc sản xuất. Thứ hai, tăng cường việc kiểm tra chất lượng sản phẩm khi sản xuất, để đảm bảo tính đồng nhất và ổn định chất lượng, đồng thời khắc phục những sản phẩm có khuyết điểm, để hoàn thiện sản phẩm đảm bảo về tính thẩm mỹ, tính an toàn khi sử dụng, củng cố niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm mỹ nghệ của mình. Thứ ba là tăng cường công tác thu thập thông tin bằng nhiều hình thức để đảm bảo nắm bắt những nhu cầu, tập quán và phong tục của từng địa phương, cũng như các chính sách quy định về tiêu chuẩn nhập khẩu thiết kế sản xuất sản phẩm thích hợp để xúc tiến mở rộng thị trường xuất khẩu. Ngoài ra, để tăng mức phong phú về mẫu mã sản phẩm thì cần phát huy thiết kế sáng tạo kiểu dáng cho phù hợp với thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng. Công Trí