Chắc không phải là ngẫu nhiên khi Lee Dong Soon lại chọn tên bài thơ Miss Sài Gòn làm nhan đề chung cho cả tập thơ – một nhan đề mà tự nó đã cho thấy một sự đan trộn văn hóa, đan trộn không - thời gian. “Miss Sài Gòn” là cách gọi của một người lính Hàn Quốc dành cho người phụ nữ Việt Nam mà anh ta đã gắn bó trong thời gian sống trong quân ngũ. Người đàn ông Hàn Quốc trong bài thơ thì đã bỏ đi và chưa biết đến ngày nào quay lại nhưng tác giả của tập thơ - một đồng bào của người lính Hàn Quốc năm xưa - thì đã đến Việt Nam. Với cá nhân ông thì đây là lần đầu tiên. Nhưng với tư cách của một người Hàn Quốc thì đó là một sự trở lại. Điều này đưa đến hai hệ quả: Thứ nhất: Tập thơ tuy được viết trong hiện tại, ghi chép và tái hiện về bức tranh sinh hoạt trong hiện tại nhưng luôn có sự gắn bó thường trực với thời gian quá khứ - thời gian của cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Thứ hai: Luôn có một sự tương thông (khi ẩn tàng, khi hiển thị) giữa hai không gian Việt Nam và Hàn Quốc.

Sự ràng buộc với quá khứ và tính xuyên không gian khi viết về di chứng của chiến tranh, theo chúng tôi, là chìa khóa quan trọng giúp ta lí giải về những đặc điểm của bức tranh thế giới và những chủ đề chính trong tập thơ. Ở bất kì nơi nào, cái đặc biệt thu hút sự quan tâm của nhà thơ là những con người Việt Nam nhỏ bé, vô danh và lam lũ: Những người đạp xích lô; những người nông dân; đôi vợ chồng người nghệ sĩ hát rong ở châu thổ sông Mê-kông; người lái xe ôm... Từ những con người và cảnh ngộ cụ thể ấy tác giả muốn nhìn thấy số phận của dân tộc Việt, muốn nhìn thấy sức sống và những phẩm chất đẹp đẽ của người dân Việt Nam luôn hiện diện sau bao nhiêu biến thiên của lịch sử: “Tôi nghĩ đến dãy núi trải dài Bắc - Nam” “ Hơn ngàn năm chịu bao nhiêu xâm lược/ Quằn quại đau đớn bao áp bức” (Xích lô); “Di chuyển trong cái bóng tối đặc đen sờ được/ Có mở mắt cũng không thấy được phía trước/ Người Củ Chi giữ thẳng mình để đi lên" (Địa đạo Củ Chi). Chính những vẻ đẹp như thế đã đem lại cho tác giả một nguồn cảm hứng và phấn khích kì lạ về sức sống và vẻ đẹp quật cường của Việt Nam. Nhưng có lẽ, ám ảnh Lee Dong Soon hơn cả khi viết Miss Sài Gòn là những di chứng của cuộc chiến tranh. Có 3 hình ảnh hiện diện một cách đậm nét trong tập thơ: Nạn nhân của chất độc màu da cam - những người phụ nữ Việt Nam và những đứa con lai Hàn Quốc - những người lính Hàn Quốc trở về sau chiến tranh. Ba mảng hình ảnh này có khi đặt song song, có khi đan xen với nhau và đi suốt dọc tập thơ như một chủ âm đầy day dứt, xót xa. Đây là hình ảnh những đứa trẻ Việt Nam bị nhiễm chất độc đi-ô-xin đang vật lộn với từng hơi thở để tồn tại: “Đến cả thở cũng quá sức với nó/Thở hổn hển, thở nặng nhọc, thở không ra thở/ Vừa thở vừa nhìn vào hư không/Thở bằng đôi mắt mờ đục" (Chất độc màu da cam 3). Còn đây là hình ảnh những người lính Hàn Quốc “may mắn sống sót trở về” từ cuộc chiến: “Chất độc màu da cam sau chiến tranh di chứng/Từng ngày từng ngày sống/ Nỗi thống khổ đi theo cùng năm tháng với thở dài”; “Cơ thể bệnh hoạn khập khiễng kéo lê/ Cho qua chục năm vật vờ cái sống/ Chết được vào nghĩa trang liệt sĩ an táng/ May sống sót được khoản tiền trợ cấp hằng năm/ Cái khoản tiền bằng khúc đuôi chuột bồi thường”… Chiến tranh đã qua đi nhưng những di chứng của nó – tựa như chất độc màu da cam: “Một lần rải xuống/ Không bao giờ mất đi” (Chất độc màu da cam 1). Di chứng thảm khốc của chiến tranh không chỉ được nhìn thấy qua những nạn nhân trực tiếp trong cuộc chiến (những người lính, những người phụ nữ và những đứa con lai, những đứa trẻ tật nguyền vì bị nhiễm chất độc đi-ô-xin) mà còn hiện diện như là vết thương đau buốt trong tâm thức của cả cộng đồng. Có một sự đồng cảm đặc biệt mà Lee Dong Soon luôn dành cho con người và cảnh sắc của Việt Nam. Sự đồng cảm khiến không gian Việt - Hàn bỗng được kéo gần lại để trở thành một không gian gần gũi. Chứng kiến những người dân Việt Nam chế biến chiếc chảo, nồi cơm, đôi xăng đan từ những mảnh vỡ của máy bay B52 nhà thơ bỗng nhớ tới người cha của mình, khi chiến tranh kết thúc, cũng đã lấy những thùng xăng, thùng đạn làm thành cái khay đựng đinh, đựng dụng cụ; lấy vỏ đạn đại bác làm thành cái gạt tàn thuốc lá (Việt Nam 1). Những món ăn Việt Nam được ông thưởng thức trong hương vị thân thuộc như với những món ăn Hàn Quốc (Trên bàn ăn). Không hiếm khi sự đồng cảm giúp nhà thơ vượt qua tức thời rào cản của sự khác biệt trong ngôn ngữ: “Dù không cùng tiếng nói/ Tôi hiểu nỗi đoạn trường này" (Nghệ sĩ hát rong). Lý giải về sự đồng cảm và gần gũi này của Lee Dong Soon, nhà phê bình văn học Ahn Mi Yeong có những nhận định hết sức sâu sắc: “Tại Việt Nam, nhà thơ đọc lên những "quá ngộ" (sai lầm) của đất nước ta (...), chứ không chỉ đơn thuần hiện thực Việt Nam. Sự cảm thông, chia sẻ và những suy ngẫm về sự tương đồng của số phận hai dân tộc Việt – Hàn từ những di chứng tàn khốc của chiến tranh trong Miss Sài Gòn phải chăng chính là sự hiện thân đẹp đẽ và đầy xúc cảm của một diễn ngôn Đông Á như thế? Miss Sài Gòn được chuyển ngữ sang tiếng Việt qua bản dịch của GS Yang Soo Bae. Nhận học vị TS tại Trường ĐHSP Hà Nội. Từ năm 1995 đến nay, GS Yang Soo Bae đã làm việc không mệt mỏi trong vai trò cầu nối giữa hai nền văn hóa Việt - Hàn. Ông chính là người đã dịch Chinh phụ ngâm khúc, tiểu thuyết Áo trắng của Nguyễn Văn Bổng và hàng chục bài thơ của các tác giả Việt Nam sang tiếng Hàn Quốc. Tập thơ của Lee Dong Soon và hoạt động dịch thuật của những người như GS Yang Soo Bae chính là những viên gạch đóng góp vào ngôi nhà chung của các quốc gia Đông Á trong tương lai. TS. TRẦN VĂN TOÀN (Đại học Sư phạm Hà Nội)