(HNM) - Hà Nội xưa có 36 phố chuyên bán một chủng loại hàng nào đó của các làng nghề nằm rải rác ở ngoại thành. Do vậy, tên phố thường được bắt đầu từ chữ “Hàng”, tựa như ca dao đã ghi lại:

“Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay, Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày,Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn, Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Than…”.

Giờ đây, không ít phố “Hàng” đã bớt phần tấp nập, thậm chí phôi phai bản sắc, nhưng những làng nghề vẫn còn đó, âm thầm, bền bỉ phát triển. Bởi làng nghề là một phần văn hóa của đất, của người, của một vùng miền, tạo nên ánh sáng màu lung linh của sự sống.

Thợ gốm Bát Tràng vẽ hoa văn trên sứ.

Những bông hoa khoe sắc

Hà Nội hiện có khoảng 300 làng nghề được thành phố công nhận và được gắn biển “Làng nghề”. Mỗi làng có sản phẩm đặc sắc riêng, được lưu giữ hàng trăm năm qua. Thậm chí có làng nghề hình thành và phát triển cả nghìn năm. Ai đã từng qua làng gốm Bát Tràng đều thấy sự phồn thịnh của làng nghề gần nghìn năm tuổi này. Ngoài chợ gốm hoạt động nhộn nhịp hằng ngày thì dọc đường hai làng gốm của xã là Giang Cao và Bát Tràng đã trở thành những con phố sầm uất đến bất ngờ. Hơn nữa, Bát Tràng còn trở thành một địa chỉ du lịch hấp dẫn với cả du khách trong nước và quốc tế.

Nhiều nghệ nhân nổi tiếng của làng như Trần Độ, Nguyễn Lợi, Vương Tuấn, Quang Chiến… đều có những sản phẩm độc đáo, thể hiện tay nghề điêu luyện và một tư duy thẩm mỹ cao. Nhiều bình, ang, chóe, lọ, ấm… được chế tác với bí quyết riêng về men và công nghệ nung, đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật.

Thợ khảm trai Chuôn Ngọ. Ảnh: Yến Ngọc

Làng nghề giày da Phú Yên, huyện Phú Xuyên là nơi cung cấp hàng da cho gần chục tỉnh lân cận Hà Nội. Ít ai ngờ, dọc đường làng Phú Yên có hàng trăm cửa hàng bán giày, dép, túi, ví… bằng da bò rất rẻ. Theo lời kể của các nghệ nhân, trước đây giày của làng được đưa đi khắp nơi, nhiều nhất là vào nội thành Hà Nội, bày bán ở khắp các cửa hàng trên phố. Hiện nay, dù chịu sức ép cạnh tranh ghê gớm từ sản phẩm nhập ngoại nhưng giày của Phú Yên vẫn được nhiều doanh nghiệp, thương nhân đặt hàng bởi có chất lượng bền đẹp phù hợp với túi tiền của khách hàng. Hội nghề giày da của làng có nhiều hoạt động đào tạo thợ trẻ và phát huy truyền thống của làng nghề. Năm 2009, nghệ nhân Lê Văn Hải của làng đã đoạt giải nhì trong cuộc thi “Thiết kế thời trang giày Châu Á - Thái Bình Dương”. Nghệ nhân Lê Văn Hải còn cùng với ông nội là nghệ nhân Lê Văn Thịnh, đóng một chiếc giày kỷ lục, dài 2,72m, cao 1,3m để chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội vào năm 2010.

Hoặc có thể kể thêm về những nghệ nhân trẻ của làng nghề khảm trai Chuôn Ngọ, huyện Phú Xuyên. Ngoài những mặt hàng khảm như tranh, chữ, hoành phi, câu đối, đồ thờ, một số nghệ nhân trẻ ở đây còn có biệt tài khảm chân dung theo ảnh hoặc theo đơn đặt hàng. Đặc biệt, ba nghệ nhân trẻ Nguyễn Văn Lãng, Nguyễn Đình Vinh, Nguyễn Duy Hải có tài khảm chân dung Bác Hồ. Riêng nghệ nhân Nguyễn Văn Lãng còn được trao chứng nhận đạt kỷ lục tranh khảm chân dung Bác Hồ lớn nhất năm 2010. Tranh khảm theo tích xưa ở làng được du khách ưa chuộng với vẻ đẹp lộng lẫy, sang trọng với chất liệu khảm đa dạng, phong phú.

Còn đó là những tấm lụa Vạn Phúc, tranh sơn mài Hạ Thái, hay những tượng Phật của làng Dư Dụ và điêu khắc gỗ Thiết Úng, Vân Hà, hoặc các mặt hàng mây tre đan ở Chương Mỹ, dát vàng bạc ở Kiêu Kỵ… Sản phẩm của các làng nghề này đều đã khẳng định được danh tiếng không chỉ ở trong nước mà cả quốc tế.

Gian nan chuyện “thương hiệu”

Khảo sát cụ thể và rộng khắp mới hay, việc phát huy truyền thống làng nghề nhằm nâng cao mức sống người thợ không hề dễ dàng. Nhiều làng nghề đang phải cầm cự theo đúng nghĩa của nó. Có thể ví dụ làng nghề làm tranh Hàng Trống, làng nghề làm quạt giấy ở Chàng Sơn (Thạch Thất) và Canh Hoạch (Thanh Oai); làng Cốm (Cầu Giấy) hay làng giò chả Ước Lễ (Thanh Oai)… Số người làm nghề ở những làng kể trên còn rất ít. Vậy nguyên nhân do đâu?

Đầu tiên là lãnh đạo địa phương chưa thực sự quan tâm và đầu tư đúng mức. Thứ hai là sự xâm nhập của các sản phẩm nhập ngoại. Nhưng có lẽ điều quan trọng nhất là các hiệp hội làng nghề chưa tìm được cách quảng bá và khẳng định được thương hiệu làng nghề.

Thương hiệu không dễ gì tạo được nếu không có một chiến lược bắt đầu từ những người làm nghề. Có thể ví dụ như, làng nghề giày da ở Phú Yên trăm năm tuổi nghề đó nhưng chưa mấy ai nhớ đến. Hàng ở đây được mang đi nhiều nơi, nhưng dưới nhãn mác khác để dễ bán hơn. Nhiều chủng loại giày làm ở làng đều không nhãn hiệu. Đó là loại giày “đơ” hay “câm”, dẫu được đóng bằng da tốt và công nghệ hiện đại. Các chủ hàng có thương hiệu từ nơi khác đến mua giày ở làng về rồi dán cái mác của mình vào để bán. Thế là giày Phú Yên bị “mất tên”.

Ta có thể lấy thêm chuyện thương hiệu ở làng nghề chế biến thuốc của người Dao ở xã Ba Vì. Cả làng Yên Sơn có tới 90% người Dao làm nghề thuốc Nam. Được phong là làng nghề, nhưng hầu hết nghệ nhân phải mang thuốc đi khắp nơi rao bán. Mạnh ai nấy làm. Hội đông y ở địa phương cũng không tổ chức sản xuất theo một quy mô nhất định. Dẫu biết, đây là nơi lưu giữ hàng chục bài thuốc cổ truyền rất có giá trị nhưng nhiều người vẫn không dám mua vì thuốc không có thương hiệu, không được chứng nhận, khẳng định chất lượng.

Chân trời hội nhập

Đây là thời điểm đầy thách thức nhưng cũng là cơ hội cho bất kể làng nghề nào ở Hà Nội. Gìn giữ đã khó, phát triển thị trường mới càng khó hơn. Để có sự bứt phá, các làng nghề, ngoài việc nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng, cần phải có kế hoạch tiếp thị và các phương án truyền thông, quảng bá sản phẩm, tìm được mô hình kinh doanh thích hợp nhất để thu hút khách hàng nhằm “gieo” được cái tên nhà sản xuất vào khách hàng. Kèm theo đó, những hoạt động dịch vụ du lịch văn hóa làng nghề cần được các nhà chiến lược đưa vào chương trình xúc tiến thương mại, du lịch mang tính lâu dài. Khi có thương hiệu, chân trời hội nhập hết sức rộng mở. Các làng nghề cũng cần phải có chiến lược tiếp cận và hội nhập quốc tế để khẳng định giá trị văn hóa truyền thống làng nghề, chất lượng sản phẩm trong cơ chế thị trường đầy biến động hiện nay.