(Tiếp theo kỳ trước)

(BNS) 3/ Chính sử ghi: Viên đô đốc Thái Phúc nhận ra chính nghĩa của quân Lam Sơn, đã cùng nghĩa quân đến chân thành Tây Đô không xa để chiêu dụ quân Minh rồi lại góp ý với nghĩa quân bày ra cách chế tạo công cụ đánh thành Đông Quan. Trong khi tâng bốc viên hàng tướng Thái Phúc thì nhà văn Nguyễn Quang Thân lại tạo ra mâu thuẫn không hề có giữa Lê Lợi và Nguyễn Trãi trong tình thế nghĩa quân đang vô cùng phấn kích. Thành Xương Giang bị hạ không chỉ một lần. Khi quân của Liễu Thăng bị đón đánh ở Chi Lăng thì Trần Nguyên Hãn theo lệnh chủ tướng chiếm lại Xương Giang để giặc hết nơi đồn trú. Quả đúng vậy, khi quân Hoàng Phúc, Thôi Tụ cập rập chạy tới đây thì thành đã mất, đành lập trại giữa đồng. Thế trận cấp kỳ, quân Lam Sơn vây đánh bốn bề, quân Minh nhanh chóng tan tác. Trong nghệ thuật quân sự có lúc phải chớp thời cơ đánh thị uy cho đối phương không kịp bàn mưu tính kế trở tay. Hoàng Phúc quỳ gối xin hàng. Thôi Tụ ở thế cùng chịu chết giữa trận tiền! Một loạt sáng tạo của nhà văn đã bóp méo sự thật lịch sử, gán tội ác cho nghĩa quân, đổ điêu cho Nguyễn Trãi như là mưu sĩ nhu nhược, sợ chết để hứng lấy sự tẩy chay khinh thị của các dũng tướng Lam Sơn. Nhân vật Thái Phúc từng được nữ nhà văn Pháp Yvélin Féray từ những năm 1980 nhào nặn trong cuốn tiểu thuyết Vạn xuân của bà nhưng sự hư cấu có mức độ, người đọc có thể bỏ qua. Nhưng giờ đây, nhà văn Nguyễn Quang Thân chẳng những lấy đó làm tư liệu gốc mà còn tâng bốc tên tướng giặc Thái Phúc cùng lúc hạ gục người cứu mạng y: “Nguyễn Trãi chắp tay: Xin đại huynh (Thái Phúc) nhận cho Trãi này ba vái: Một là vái để tạ lòng nhân của đại huynh với thân phụ và em trai tôi trong những ngày đi đày trên ải Bắc (?). Còn vái này là cảm tạ công lớn của đại huynh đối với nghĩa quân và sinh linh hai nước (!). Vái này nữa để ghi nhận tình tri kỷ của đại nhân với đứa em côi cút là Trãi này(!)”. Phải chăng đây là vì Sao Khuê trên bầu trời nước Nam?!, là khí phách tinh hoa Đại Việt?! Anh linh vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi nghĩ sao khi có thêm một đứa cháu xúc phạm người? Mời quý độc giả tự bình vài lời đối thoại của hai vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn với thuộc cấp và khẩu khí của các bà thê thiếp với bậc quân hầu vương giả: - Người được coi là nhà văn hóa của Việt Nam và nhân loại với người vợ thi nhân tài sắc của ông: “... Ông nhìn bà ái ngại: - Hay là tôi chiều bà một chút?... - Ông ma mãnh lắm! Tôi thấy chỉ khi nào ông muốn thì ông mới ăn nói mặn mà, dẫn cả thơ và dẻo mồm tán tỉnh”... “- Tôi lại phải khất bà thôi! - Tôi biết cái kiếp làm vợ vua và vợ mấy ông đại thần là phải nhịn thèm một đời!”... “- Ông Trãi ơi, người có học sống giữa đám vô học thì như con công giữa đàn gà chọi, không phải đá cũng phải đạp. Tôi lo cho ông quá!”... “Bà Lộ tru tréo: Ông (Nguyễn Trãi) nói thân dân mà hở miệng ra là chê dân... Hôm đó Trãi đành thua”... “Bà Lộ nói đùa với chồng: Vậy thì chơi, không làm gì còn lãi hơn”... “Bà Lộ nguýt chồng: - Ông làm như tôi quý hóa lắm không bằng!... - May là tôi không đẹp. Nhưng tôi có ghê gớm không? - Bà cũng ghê gớm! Khéo rồi bà cũng sẽ gây họa cho người ta không chừng!”. - Bình Định vương: “Trong khoảnh khắc không làm chủ được mình của cơn ngẫu hứng đàn ông, mụ (nấu bếp) quýnh lên còn ông thì làm vội làm vàng nhanh như con gà trống sợ mấy thằng thị vệ nhìn thấy” và đùa với tướng lĩnh: “Lũ con gái đấm lưng không đã. Với lại hễ bọn chúng chạm tay vào thì ta không còn ngứa lưng mà lại ngứa chỗ khác”! Nghe bà Lộ hỏi nhà vua có tướng hổ, tiếng nói như chuông đồng và mắt ngài có hai con ngươi, người thứ thiếp Ngọc Trần của vương cười ngặt nghẽo: “- Hai con ngươi thì em không biết nhưng em biết chắc ngài chỉ có một chim thôi”. Năm trăm năm sau dân tộc ta lại sinh ra một vị anh hùng dân tộc lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng oai hùng và thắng lợi vẻ vang như thế, thiên hạ đồn rằng hai mắt người có bốn con ngươi khi nhìn tấm ảnh giữa mỗi tròng đen có hai chấm sáng! 4/ Nghĩa quân Lam Sơn không phải là phường lục lâm thảo khấu: Ngay từ buổi đầu tụ nghĩa chỉ vẻn vẹn hơn chục tráng sĩ, lấy núi Lam Sơn hoang dã làm chốn nương mình, ngẫm thù lớn há đội trời chung, căm giặc nước thề không cùng sống bàn chuyện dấy nghĩa cứu muôn dân Đại Việt. Trải bao đêm ngày nếm mật nằm gai, quên ăn vì giận, thế giặc đang mạnh lại gặp lúc vận nước khó khăn, nhiều lúc phải ăn rau cỏ qua ngày mà đội quân ấy vượt qua bao khốn đốn, trưởng thành dần lên làm cho giặc phải kinh hoàng, ngày càng được dân chúng tin yêu hưởng ứng. Bình Định vương ra lệnh: “Dân ta lâu nay đã phải khổ sở về chính trị bạo ngược của người Tàu, quân ta đi đến đâu cấm không được xâm phạm đến chút gì của ai. Những gạo thóc trâu bò mà không phải là của người nhà Minh thì không được lấy”. Đó là một đạo quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, kỷ luật nghiêm minh. Khi đuổi sạch giặc ở phía Nam, đem quân ra Bắc, chính sử ghi: Quân của Bình Định vương đi đến đâu giữ kỷ luật rất nghiêm, không xâm phạm đến của ai chút gì, cho nên ai ai cũng vui lòng theo phục. Trong khi vây hãm thành Đông Quan, Bình Định vương ra Ba điều răn với các quan: Không được vô tình - Không được khi mạn - Không được gian dâm và Mười điều kỷ luật với các tướng sĩ, trong đó có mấy điều chịu hình phạt nặng: Không có việc gì mà đặt chuyện ra để làm cho mọi người sợ hãi - Lo riêng việc vợ con mà bỏ việc quân - Theo bụng yêu ghét của mình mà làm mất công quả của người ta... Thế mà dưới ngòi bút của nhà văn mô tả đội quân đó như lũ giặc cỏ thỏa tay chém giết, thi nhau hãm hiếp, các tướng lĩnh tranh nhau vơ vét hôi của chiến lợi phẩm. Dẫn chứng thì đầy ra trong hơn 300 trang sách, chúng tôi chỉ trích dẫn mấy câu của các vị tướng lĩnh đại công thần: Tướng Phạm Vấn nói toạc ra: “Cánh võ biền mình không viết hịch được thì phải lấy chiến lợi phẩm làm nức lòng quân sĩ. Mình đâu là nho sĩ mà nói chuyện thanh cao”. Tướng Lê Sát đồng tình: “Ta nhường họ phần thanh cao, chỉ xin phần thô tục” và Bình Định vương cũng biết rõ bản chất tướng sĩ mình: “Cái nhăn mặt (của Lê Lợi) luôn nói lên thế kẹt của đấng quân vương nhận ra mình bất lực trước đám công thần can trường dũng cảm nhưng ông biết vô học, nhiều khi vô đạo, hễ ông quay gót là lập tức giở trò ngu ngốc cho thỏa cái bất kham của họ”. Ông tướng dòng dõi Trần Nguyên Hãn nói với ông anh mưu thần Nguyễn Trãi: “Tướng sĩ Lam Sơn như các ông Vấn, ông Sát, ông Ngân và nhiều ông khác, từ các ông ấy đến anh lính trơn đang như con hổ đói sắp vồ mồi. Một đống kẻ thù đang chịu trói ở Đông Quan tha hồ chém giết để rửa hận. Một đống của cải gái đẹp tha hồ chia nhau cướp phá hiếp giết cho thỏa mười năm nhịn thèm. Một ngôi báu cho ngày mai...”. Và Nguyễn Trãi bị lung lạc khi nghe vợ nói ra: “... Trước ngày các ông vào, đánh trận nào thắng, các tướng lén cho ngựa thồ vàng bạc lấy của địch về nhà. Ông lại khuyên vua trị kẻ tham nhũng... Bà Lộ nói đúng, ông đang rắp ranh kéo miếng mồi béo bở từ trong miệng ra khi họ chưa kịp nuốt”! Một đội quân giải phóng mà từ vị chủ soái tới các tướng sĩ đều như vậy khác gì một đội quân ô hợp, phường lục lâm thảo khấu thì sao được sự ủng hộ của nhân dân?! 5/ Hình như ông nhà văn bỏ qua hết những tình cảm yêu nước thiêng liêng là chất keo gắn kết mọi nghĩa sĩ trong đội quân chiến đấu dưới cờ đại nghĩa của người anh hùng. Ông nhà văn cố tình khoét sâu và cường điệu mối mâu thuẫn đến mức thù nghịch trong hàng ngũ nghĩa quân như: giữa người có học với người ít học, giữa người sinh ra ở chốn kinh kỳ với người lớn lên từ mái tranh thửa ruộng. Một không khí luôn khích bác, châm chọc, khinh thị lẫn nhau công khai trong hàng ngũ nghĩa quân đầy trong cuốn sách: Lê Sát khinh cái lũ học trò khua môi múa mép, cái lũ trí thức không bằng cục phân ấy đang trong quân ngũ của ông: “ Xưa nay sơn hà đổ nát là do bọn nho sĩ chỉ biết đọc sách mà không dám cầm cung kiếm”. Ông chê quan Thừa chỉ: “Mần thơ mà ngồi ngôi tướng thì thua vãi đái” và chê tướng Trần Nguyên Hãn có học có tài: “Đưa lính cho cục phân chó ấy thì nó nướng sạch”. Phạm Vấn thì cay cú nói ra: “Đáng lẽ chúa công và anh em nghĩa sĩ Lam Sơn chúng tôi phải xin các vị nho sĩ Bắc Hà bỏ qua cho cái tội vô học”. Tới mức Lê Ngân xuýt xoa trách Phạm Vấn đã bỏ mất cơ hội thủ tiêu Nguyễn Trãi: “ Ông thật thà như đếm. Đêm hôm ấy vào tay tôi chỉ cần một cơn nhồi máu là xong!”. Thậm chí nhà văn mớm lời cho nhà vua nói thẳng ra với vị mưu sĩ của mình: “Ta ít học, chỉ giỏi đánh nhau. Nhưng nếu ta được đọc kỹ binh pháp và Bình Ngô sách của nhà ngươi sớm hơn thì đã bớt được bao nhiêu nhân mạng anh hùng liệt sĩ. Đó là nỗi ân hận của Lợi này”! Đến nỗi “nhiều lúc Nguyễn Trãi thấy tiếc giá như Lê Lợi không là một ông đầu mục ít chữ mà là một nhà nho bụng đầy thi phú thì giữa hai người sẽ có một tình bạn tri kỷ chẳng khác gì Tử Kỳ với Bá Nha” trong khi với tên hàng tướng Thái Phúc thì vị mưu sĩ số một lại tiếc theo kiểu khác: “Nhiều lúc Trãi tôi tự hỏi: Tại sao tôi và huynh lại từng là cừu thù mà không phải là một Tử Kỳ với một Bá Nha”! Chẳng lẽ đó là hình ảnh của đội quân “Đại thiên hành hóa” với những tướng lĩnh anh hùng kiệt hiệt làm nên chiến tích thần kỳ đánh đuổi đội quân xâm lăng hung hãn về nước mà vẫn tim đập chân run?! 6/ Trong khi các tướng lĩnh Lam Sơn chỉ là lũ vô học gái gú, hiếu sát và vô đạo thì các quan xâm lược nhà Minh lại là những người có học, có đức, nhân ái tràn trề: “Kẻ làm tướng có thể cướp một thành, diệt một nước nhưng không được o ép liễu yếu đào tơ”. Đô đốc Thái Phúc âu yếm khom lưng cõng cô ca nữ qua suối bên rừng. Đến như viên Tổng binh Vương Thông từng gây ra bao nhiêu tội ác trời không dung, đất không tha mà với người con gái bao lâu bị y bắt về nội dinh hành hạ thân xác, đêm trước khi mở cửa thành Đông Quan ra hàng nghĩa quân, tác giả Vạn xuân cho y tự tay giết đi thì tác giả Hội thề cho y nai nịt gọn gàng bế thốc người tỳ thiếp ấy cùng 100 quân sĩ cấm phòng liều chết phá vòng vây đem trả cô về cho cha mẹ ở cửa ô Yên Phụ với cả một túi ngọc vàng! Đó là hai sáng tạo của hai nhà văn đồng thời - Một người là công dân của một quốc gia từng có đội quân viễn chinh giày xéo nước non này. Một người là hậu duệ của những nạn nhân khốn khổ của lũ giặc bạo tàn mà họ cùng lấy làm đề tài sáng tác!!! Chỉ xin nhắc ông nhà văn con Lạc cháu Hồng rằng vào thời Vương Thông đến chiếm Đông Quan, phía bắc thành chỉ là một đầm nước mênh mông thông với sông Hồng. Mãi đến thế kỷ XVII người dân sở tại mới đắp một con đê hẹp ngăn ra thành hai hồ lớn nhỏ gọi là hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Con đê giữ cá lâu dần thành đường đi mà người dân vẫn quen gọi là đường Cổ Ngư, không ít người Hà thành biết... Thật tình xem xong cuốn sách mà thấy mệt vì sự cẩu thả, dễ dãi, tùy tiện, vấy bùn vào lịch sử nước nhà đến mức không thể chấp nhận được. Có thể nhà văn tự giới hạn khung thời gian vào lúc đám quần thần tướng lĩnh của một triều đại đang bắt đầu sửa soạn ngôi thứ và bị ám ảnh về những chuyện triều chính rối ren xảy ra liên tục suốt mấy triều vua đầu nhà Hậu Lê khiến nhiều văn quan võ tướng công thần, cả những phi tần, hoàng tử chết oan khốc thảm thương. Nhà văn muốn lý giải cái mầm gây họa có ngay từ trong trứng nước. Đây là chuyện lịch sử của nhiều triều đại ở hai nước láng giềng vừa là bạn vừa là thù truyền kiếp. Tầm của nó lớn quá để các nhà sử học luận bàn. Thiết nghĩ những sự kiện xảy ra trong những điều kiện lịch sử khác nhau tất bị chi phối bởi những quy luật khác nhau. Ở cùng một con người cũng có những diễn biến về tư tưởng và hành động khác nhau ở những thời điểm khác nhau. Sẽ là bất công khi trút hết những điều tệ hại do lớp người sau gây ra lên đầu những người gối đất nằm sương khai sơn phá thạch. Sự thật lịch sử phải được tôn trọng. Thôi thì cây bút trong tay, người ta muốn viết vẽ gì là tùy ở cái tâm và cái tầm của họ. Không phải không có người tán dương hưởng ứng. Nhưng việc thẩm định tác phẩm để được trao một giải thưởng văn học mang tầm cỡ quốc gia là trách nhiệm nặng nề của Hội đồng chấm giải. Đành rằng việc trao giải cho một tác phẩm văn học trong bối cảnh hiện nay thật khó có sự đồng thuận cao trong dư luận. Nhưng chí ít cần có sự nghiêm túc cũng như tác dụng giáo dục và mỹ cảm dù chỉ phần nào cho người đọc. Mà truyện này thì ngược lại!