(baodautu.vn) Mặc dù “room” cho vay cầm cố chứng khoán vẫn còn, nhưng các ngân hàng rất thận trọng khi thực hiện nghiệp vụ này.

Giá trị giao dịch của 2 sàn chứng khoán (HOSE, HNX) được cải thiện trong những tháng đầu năm 2010, các sàn giao dịch vàng rốt ráo tất toán tài khoản của nhà đầu tư, nguồn vốn khả dụng ngân hàng dồi dào hơn trước Tết, đặc biệt là lãi suất cho vay thỏa thuận lên mức cao, khiến tăng trưởng tín dụng khó khăn… Đây được xem là những yếu tố làm dịch chuyển dòng vốn từ ngân hàng sang thị trường chứng khoán. So với trước Tết, các công ty chứng khoán đang tích cực hỗ trợ mạnh hơn cho nhà đầu tư và ra sức tìm kiếm nguồn vốn từ ngân hàng để tạo sức hút từ đòn bẩy này. Tuy nhiên, trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, đại diện một số ngân hàng và công ty chứng khoán cho hay, dù lượng tiền chuyển qua thị trường chứng khoán có gia tăng, nhưng không hẳn chỉ dựa vào vốn vay. Ông Huỳnh Anh Tuấn, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán SJC cho biết, tuy hạn mức vốn mà SJC có được thông qua việc liên kết với một số ngân hàng vẫn còn, nhưng Công ty rất thận trọng khi “mở hầu bao” đối với các nhà đầu tư. Mặt khác, các ngân hàng cũng chỉ chọn lọc một số cổ phiếu để thực hiện cầm cố và hạn mức cũng thu hẹp hơn so với trước đây. Còn ông Trần Văn Vĩnh, Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) cho biết, số dư cho vay cầm cố chứng khoán của OCB tính đến giữa tháng 3/2010 đạt khoảng 15% trên tổng vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng (tương đương số dư nợ 300 tỷ đồng). Theo ông Vĩnh, OCB vẫn cho vay, nhưng trên cơ sở chọn lọc đối với tín dụng cầm cố. Lãi suất cho vay theo quy định trần của Ngân hàng Nhà nước cho phép đối với tín dụng ngắn hạn đầu tư tài chính là 12%/năm. Tương tự, tại Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), ông Bùi Tấn Tài, Phó tổng giám đốc, kiêm Giám đốc Khối khách hàng cá nhân ACB cho biết, “room” cho vay cầm cố chưa sử dụng hết và Ngân hàng vẫn triển khai cho vay cầm cố chứng khoán đối với các cổ phiếu nằm trong danh mục quy định của ACB. Tuy vậy, tỷ lệ cho vay chỉ ở mức vừa phải và thời hạn ngắn. Ngân hàng TMCP Miền Tây (Western Bank) cũng cho hay, hiện Ngân hàng chỉ mới sử dụng hết 10% “room” tín dụng cho vay cầm cố chứng khoán trên tổng vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Nguyễn Văn Sỹ, Phó tổng giám đốc Western Bank, đây là loại hình tín dụng có tiềm ẩn rủi ro hơn so với các loại hình cho vay khác, do đó Western Bank rất thận trọng trong việc chọn lọc cổ phiếu để cho vay cầm cố. Hầu hết các ngân hàng đều cho biết, chưa sử dụng hết hạn mức nguồn vốn cho vay cầm cố (theo quy định, các ngân hàng được sử dụng 20% trên tổng vốn điều lệ để cho vay cầm cố chứng khoán). Thế nhưng, với tín dụng cầm cố chứng khoán theo quy định tại Công văn 8883/NHNN-CSTT, lãi suất cho vay phải áp dụng trần. Trong khi đó, một số công ty chứng khoán đang áp dụng mức lãi suất cho vay cầm cố đối với nhà đầu tư cao hơn trần 12%/năm. Trong đó, phổ biến là 17 - 19%/năm. Giải thích về vấn đề này, ông Huỳnh Anh Tuấn cho rằng, sở dĩ lãi suất cầm cố chứng khoán được các công ty chứng khoán áp dụng mức cao hơn là do bao gồm cả phí. Tổng giám đốc một ngân hàng cũng cho rằng, với tín dụng cầm cố chứng khoán, rủi ro luôn tiềm ẩn, do thị trường chứng khoán luôn biến động. Do đó, lẽ ra lãi suất cho vay phải áp dụng cao hơn mức trần cho phép hiện nay. “Nhưng với Ngân hàng Nhà nước, việc đưa ra Công văn 8883/NHNN-CSTT là nhằm hạn chế nguồn vốn chảy vào tín dụng cầm cố chứng khoán. Một phần là do bài học kinh nghiệm để lại từ năm 2007, khi các ngân hàng đẩy mạnh vốn cho vay cầm cố chứng khoán, nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính quá nhiều đã đẩy giá cổ phiếu tăng nóng và không loại trừ được nguy cơ bong bóng trên thị trường chứng khoán vào những ngày cuối năm 2007, đầu năm 2008. Từ đó, dẫn đến nợ xấu đối với khoản vốn cho vay cầm cố gia tăng. Vì vậy, chủ trương áp dụng trần lãi suất cho vay đối với tín dụng cầm cố chứng khoán cũng là muốn hạn chế rủi ro này”, vị tổng giám đốc trên giải thích.