SGTT - “Tháng Giêng là tháng ăn chơi…”! Đã không ít ý kiến phê phán tập tục này. Và nhân dịp này, cũng đã có nhiều tiếng nói phê phán những hành vi phản văn hóa trong một số biểu hiện tại các lễ hội, những hoạt động “buôn thần bán thánh”, những “dịch vụ” chụp giật trong mùa lễ hội. Đúng là cần phê phán để nhằm khẳng định những giá trị cao đẹp của lễ hội, không để cho những hiện tượng tiêu cực nói trên làm lu mờ những giá trị ấy.

Đã từng có những công trình nghiên cứu sáng giá khẳng định ý nghĩa sâu xa của lễ hội đã ăn sâu vào tâm thức người Việt. Chỉ xin dẫn ra đây nhận định của Nguyễn Văn Huyên, một học giả đáng kính với nhiều nghiên cứu dân tộc học và xã hội học sáng giá từ những thập kỷ 30 và 40 thế kỷ 20: “Nông dân Việt Nam vất vả lo ngày hai bữa ăn, vẫn rất gắn bó với lễ hội. Không chỉ vì đó là dịp hiếm có để nghỉ ngơi, được vài bữa có cá thịt, mà vì lễ hội có vai trò chủ yếu trong niên lịch và trong lao động của họ… Lễ hội của nông dân Việt Nam nhằm thờ cúng thành hoàng, vị thần bảo hộ mùa màng, hòa bình, an ninh thịnh vượng. Mặt khác, sự thống nhất của làng xóm chỉ thể hiện ở những cuộc hội họp, ở nơi thờ cúng thiêng liêng như vậy của thôn xã ”.(1) Ông phân tích: “Các gia đình, thông thường khép mình lại và bị giam hãm trong nỗi lo âu của đời sống hàng ngày ít nhiều ích kỷ, thì chìa rộng bàn tay cho nhau. Mọi người chúc nhau sức khỏe và hạnh phúc mà chẳng có ẩn ý gì cả. Và dường như ai cũng thấy ở sự thịnh vượng của láng giềng vẻ thanh bình và yên ổn của tất cả mọi người. Trạng thái hưng phấn này, trong khi làm trẻ lại sự hiệp đồng xã hội, phải là phần mở đầu của những lễ hội mùa xuân sắp mở khắp nước bắt đầu từ ngày mùng 4 tết. Và đúng là lễ hội đã “kéo mọi người khỏi cuộc sống đơn điệu của họ, nó vừa khiến cho họ khẳng định sức mạnh của tinh thần gia đình, vừa làm trẻ lại sự hiệp đồng xã hội gắn bó “trăm nhà” với nhau ở xứ sở này có lẽ từ hàng nghìn năm”.(2) Trong lời tựa cho cuốn sách Tục thờ cúng thần tiên ở Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên, một học giả Pháp khẳng định: “…các đền thờ được mô tả cùng với những nghi lễ bói toán tại các đền này, là những vị thần tiên thuần túy Việt Nam. Có thể nói đó là những vị thánh của dân tộc mà truyền thuyết đẹp rực rỡ là một bộ phận không thể tách rời trong di sản tôn giáo và tinh thần của đất nước…”(3) Chính “những truyền thuyết đẹp rực rỡ” là những nét thăng hoa cũng như là điểm quy chiếu của nội dung những tiết mục diễn ra trong các lễ hội mùa xuân, đem lại cho con người, chủ yếu là người nông dân quanh năm đầu tắt mặt tối, những ngày thư giãn quý báu để thả mình vào những dịp vui hiếm hoi mà ở đấy, những ràng buộc xã hội về những tôn ti trật tự của đẳng cấp, phận vị dường như phần nào được giải tỏa. Người ta cố duy trì truyền thống mở hội làng, xem đó như khẳng định một nét riêng đặc thù của cộng đồng làng, nhân danh cái bản lĩnh riêng của cộng đồng đó mà tồn tại và phát triển. Vì vậy, hội làng từng là nhịp đập của sinh hoạt xã thôn. Hội làng trở thành một kết cấu văn hóa của làng xã Việt Nam bao đời. Người ta đã đưa ra con số thống kê có gần 500 lễ hội trên cả nước. Sau mấy ngày tết, làng quê tưng bừng lễ hội mùa xuân, một biểu hiện sống động của văn hóa làng đang được gìn giữ, thanh lọc và phát huy, trong đó, có những lễ hội đã vượt qua phạm vi cộng đồng làng, trở thành một sinh hoạt tinh thần của một vùng hoặc rộng hơn nữa. Nếu “làng ta mở hội thờ thần, chiêng khua trống giục xa gần vui thay” mà vị thần đó là một anh hùng dân tộc như Thánh Gióng ở hội Gióng, như An Dương vương ở hội Cổ Loa sẽ là ngày hội của cả nước. Có thể kể ra nhiều nữa: hội đền Hạ Lôi (Mê Linh) tưởng niệm Hai Bà Trưng, lễ hội Lăng Ông tại Sài Gòn – Gia Định xưa ngày mùng 1, mùng 2 tết và ngày giỗ mùng 1 tháng 8 (âm lịch) để tưởng nhớ tả quân Lê Văn Duyệt, hội chùa Bà ở Bình Dương… “Trẩy hội” là một nhu cầu mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của người dân. Ngoài ý nghĩa vui chơi giải trí, từ trong sâu thẳm của tâm thức Việt, là sự khơi dậy tinh thần dân tộc, thể hiện lòng tôn kính, biết ơn những vị anh hùng cứu nước, các tổ phụ ngành nghề, các danh nhân văn hóa. Chẳng thế mà lễ hội chùa Hương bắt đầu từ ngày mùng 6 tết kéo dài cho đến tháng ba mà riêng ngày mở hội đã có đến hơn 5 vạn khách. Và rồi lễ hội Yên Tử gắn với Phật hoàng Trần Nhân Tông, người anh hùng dân tộc trong kỳ tích đập tan cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba trong thế kỷ 13, cũng là người sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam. Lễ hội này khởi đầu từ ngày mùng 10 tháng giêng đến hết tháng ba, nhưng hai ngày mùng 5 và mùng 6 vừa rồi đã có hàng vạn người đến Yên Tử. Huyền thoại đã biến thành lịch sử, tạc vào đất nước để nhắc nhở ý chí quật cường của dân tộc trong vị thế địa chính trị hiểm nghèo phải thường trực tinh thần cảnh giác…Những lễ hội ấy đã lưu giữ và làm ấm sáng mãi niềm tin vào nguồn mạch vô tận của sức mạnh dân tộc Việt Nam ta. Cần phải có một chiến lược đúng đắn từ một tầm nhìn văn hóa rộng mở trong thời đại của nền văn minh trí tuệ để kế thừa, tôn tạo và phát huy những giá trị văn hóa cao đẹp của các “lễ hội” trong đời sống đất nước chứ không chỉ phó thác cho ngành văn hóa và du lịch cùng các địa phương tổ chức lễ hội. Và, nếu như văn hóa là cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả, thì những giá trị văn hóa của các lễ hội vốn có nguồn mạch từ nền văn hóa làng, cái nôi của bản lĩnh văn hóa dân tộc, cần phải được nhìn nhận một cách nghiêm túc. Càng hội nhập với thế giới lại càng phải biết cách giữ gìn và phát huy bản lĩnh văn hóa dân tộc. Chúng ta phải đến với thế giới bằng bản lĩnh đó. Giáo sư Tương Lai (1), (2), (3): Nguyễn Văn Huyên - Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam - Tập 2, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1996, tr.9, tr.93, tr.138,