Tiến sĩ Lê Đình Tiến, Thứ trưởng Bộ KHCN, cho biết đầu tư từ ngân sách cho KHCN của VN nếu tính tương đối (khoảng 0,5% GDP) thì không thấp so với thế giới và phù hợp với một nước đang phát triển.

Tuy nhiên, đầu tư cho KH-CN ở khu vực tư nhân quá thấp, mới đạt khoảng 0,2% GDP. 10 ngành có giá trị xuất khẩu lớn của Việt Nam (nông nghiệp, thủy sản, dệt may, da giầy...) vẫn chủ yếu là bán sức lao động chứ chưa thể bán "chất xám" hàm chứa trong sản phẩm. Doanh nghiệp trong các ngành này tập trung đầu tư vào công đoạn chế biến sản phẩm với mong muốn hoàn vốn nhanh, còn làm thế nào để có được nguồn nguyên liệu tốt thì họ đùn cho nhà nước. Đầu tư ít, lại dàn trải “Hiện, mức đầu tư toàn xã hội cho KHCN còn khoảng 0,7% GDP (thấp nhất thế giới). Còn theo số đầu tư trên đầu người thì chỉ đạt đạt 5 USD/người. Với nguồn kinh phí ít ỏi như trên, cộng với đầu tư dàn trải ở nhiều nơi, nên chưa tập trung giải quyết những vấn đề công nghệ trọng điểm, có ý nghĩa quyết định tạo ra các sản phẩm chiến lược cũng như ngành nghề mới", tiến sĩ Lê Đình Tiến nói. Ông Bùi Thiên Sơn, Viện Chiến lược và chính sách KHCN, Bộ KHCN, cho biết: "Ở Trung Quốc, tỷ lệ đầu tư cho KHCN từ ngân sách so với khu vực ngoài nhà nước là 1:3, trong khi ở Việt Nam thì ngược lại, là 5:1". Trong khi đó, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có điều khoản quy định doanh nghiệp được trích tới 10% lợi nhuận trước thuế để lập quỹ phát triển KHCN, nhưng hầu hết không thực hiện. Rất ít doanh nghiệp có bộ phận nghiên cứu, phát triển (R&D), ngay cả các tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn. Theo kết quả khảo sát tại 1.200 doanh nghiệp Việt Nam của Tổ chức Hợp tác kỹ thuật CHLB Đức (GTZ), chỉ có khoảng 0,1% doanh thu hằng năm của doanh nghiệp được dành cho đổi mới công nghệ. Việc nhập khẩu công nghệ hằng năm của doanh nghiệp Việt Nam cũng chỉ đạt dưới 10% tổng kim ngạch nhập khẩu và chỉ bằng 1/4 của các nước phát triển. Tìm cách gỡ bí Tiến sĩ Hồ Sỹ Hùng, Phó cục trưởng Cục phát triển doanh nghiệp Bộ Kế hoạch - Đầu tư, cho biết hiện 97% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo việc làm cho khoảng ba triệu lao động, đóng góp 40% GDP và 29% kim ngạch xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng đạt 18%/năm. Tuy nhiên, 80% doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng công nghệ lạc hậu từ 3 - 4 thế hệ so với thế giới. Đa số doanh nghiệp sử dụng công nghệ của những năm 1980 và năng lực nghiên cứu đổi mới công nghệ rất hạn chế. Nguyên nhân việc doanh nghiệp chưa đầu tư cho KHCN phần lớn xuất phát từ cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước hiện nay còn gò bó các giám đốc, trao cho họ quá ít quyền tự chủ, nhất là trong việc quyết định những khoản đầu tư lớn, trong đó có đầu tư cho đổi mới công nghệ. Thủ tục xét duyệt, thẩm định các dự án đầu tư đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp Nhà nước kéo dài, khiến nhiều đơn vị không hào hứng tham gia hoặc khó khuyến khích họ có chiến lược đầu tư dài hạn. Cơ chế hiện nay lấy tình hình lỗ lãi hằng năm của doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả khiến họ ngại xây dựng chiến lược đổi mới công nghệ. Ngoài ra, một thực tế đã được chứng minh là muốn thành công trong phát triển sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm công nghệ cao, cần phải thành lập các trung tâm nghiên cứu. Và trung tâm này là một bộ phận không thể tách rời của doanh nghiệp. Hiện nay, ở Việt Nam đã xuất hiện các trung tâm như vậy. Đơn cử, Công ty cổ phần Sơn Hải Phòng đã xây dựng Trung tâm nghiên cứu rộng 800m2 để các chuyên gia và kỹ sư của công ty nghiên cứu, đưa ra các sản phẩm mới đạt tiêu chuẩn quốc tế. Hay như Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) đã lập Trung tâm nghiên cứu với mục tiêu đề xuất và thử nghiệm các dịch vụ và công nghệ mới. Tuy nhiên, đáng tiếc số đơn vị có Trung tâm nghiên cứu ở Việt Nam còn rất hiếm, mà lý do một phần cũng vì các thủ tục chưa thông thoáng. Chính về vậy, tiến sĩ Hồ Sỹ Hùng cho rằng khi "gỡ" được những rào cản trên, lúc đó hoạt động KHCN trong cộng đồng doanh nghiệp mới thực sự đem lại hiệu quả.