Giữa núi rừng bạt ngàn của Tây Nguyên, có một vị tướng, mà tên tuổi của ông không chỉ gắn liền với đại ngàn. Vị tướng ấy, là Thiếu tướng Huỳnh Huề (thường gọi là Ba Hoàng), một người con của miền Trung, đã từng là một chỉ huy điệp báo tài giỏi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, và là một người hùng trên trận tuyến giữ bình yên hôm nay…

Câu chuyện với ông trong một buổi chiều muộn hiếm hoi giữa Hà Nội, khi ông vừa từ Campuchia về Buôn Ma Thuột và đáp máy bay ra thẳng Hà Nội để kịp dự buổi lễ mít tinh, thật ấm cúng giản dị. Phòng khách của nhà khách Bộ Công an đơn giản, không huân chương chiến công, không bảng vàng thành tích, không sao và mũ, mà chỉ có những câu chuyện đời thường của một con người bình dị, khi đã cởi bỏ ra ngoài mình áo khoác của những hào quang của một vị tướng. Chất giọng miền Trung đầm ấm, và nụ cười chân thành, hào sảng, mang theo cả cái nắng và gió của đại ngàn Tây Nguyên, khiến tôi như bị hút vào câu chuyện của ông. Dù được sinh ra ở miền Trung, nhưng cuộc đời ông đã đặt dấu chân lên khắp mọi miền của đất nước, từ những vùng xa xôi của núi rừng Tây Bắc như Đồng Văn, Mèo Vạc, đến những vùng heo hút của miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên. Cuộc đời của một vị tướng như ông dường như chưa có lúc nào được ngơi nghỉ. Lật lại từng trang sử cuộc đời ông, thế hệ chúng tôi không bao giờ hiểu được, bởi đó là một cuộc đời gắn liền với công việc trọng đại của đất nước. Trong chiến tranh, ông là Cụm phó Cụm Điệp báo A10, An ninh T4 (do đồng chí Mười Hương phụ trách), đã lôi kéo được rất nhiều trí thức tham gia Cách mạng, góp phần tác động để Dương Văn Minh tuyên bố án binh bất động vào lúc 9h 25’ ngày 30/4/1975 và tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào trưa ngày 30/4/1975. Rồi đến thời bình, mang theo cốt cách của một chỉ huy điệp báo ấy, ông lại bước vào một trận chiến, mà ở đó, cuộc đấu tranh cũng không kém phần khốc liệt để giữ sự bình yên cho Tổ quốc. Thiếu tướng Huỳnh Huề bảo, trong chiến tranh, có thể nguy hiểm hơn khi cái chết luôn rình rập, cận kề, nhưng cuộc đấu tranh đó có một ranh giới rõ ràng giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Còn cuộc chiến trong thời bình, ở những địa bàn nhạy cảm mà ông được giao phó như miền Nam, Tây Nguyên, Tây Bắc, thì cuộc đấu tranh càng khốc liệt và phức tạp. Đó là cuộc đấu tranh để giữ yên "ba Tây", những vùng trọng yếu của đất nước, mà nếu 3 vùng yên thì đất nước sẽ yên. Thiếu tướng Huỳnh Huề, trong từng thời điểm khác nhau của 35 năm sau chiến tranh đã phải đảm nhiệm những công việc khó khăn và gian nan đó. 15 năm là Cục phó Cục An ninh ở địa bàn phía Nam, 3 năm là Cục trưởng Cục An ninh Tây Bắc và giờ là một địa bàn không kém phần trọng yếu, Đăk Lắk - Tây Nguyên. Đã có một thời, dễ chừng đến 3 năm, theo nhiệm vụ, ông phải xa gia đình, "cơm niêu nước lọ" ra Hà Nội nằm vùng. Hồi đó ông được giao nhiệm vụ Cục trưởng Cục An ninh Tây Bắc, phụ trách một địa bàn phức tạp trong thời điểm nhạy cảm. Cuộc sống của ông lúc đó là những chuyến đi về giữa Hà Nội và Tây Bắc xa xôi. Ba năm xa gia đình, với một vùng đất mới trong cái lạnh khắc nghiệt của khí hậu miền Bắc, chắc có những khoảnh khắc, ông sẽ cảm thấy mỏi mệt. Nhưng ông không nằm trong cái lẽ thường tình ấy. Cuộc đời ông gắn liền với những chuyến đi, những chuyên án nối tiếp chuyên án, và hạnh phúc của ông gắn liền với sự yên bình của đất nước. Nhiệm vụ của ông hồi đó rất nặng nề, đảm bảo an ninh vùng Tây Bắc. Ba năm không phải là khoảng thời gian quá nhiều cho một công việc mang tính sống còn như vậy, nhưng ông đã hoàn thành xuất sắc vai trò thủ lĩnh của mình, giữ yên cho vùng biên giới địa đầu Tổ quốc. Có thể nói, quãng đời sau chiến tranh của ông cũng là một dấu mốc đáng nhớ, bởi ông là một trong những người đứng mũi chịu sào trên những trận tuyến an ninh liên quan đến sự bình yên của đất nước. Nhưng ông vẫn luôn khẳng định rằng, nếu không có những ngày hoạt động trong chiến trường miền Nam khói lửa trong cụm Điệp báo A10, thì sẽ không có một chỉ huy Huỳnh Huề hôm nay, lăn lộn vào những vùng chảo nóng của Tổ quốc, góp phần giữ bình yên cho đất nước. Cuộc đấu tranh với những âm mưu đen tối của các thế lực thù địch ở những địa bàn trọng điểm như Tây Bắc, Tây Nam Bộ và Tây Nguyên là một cuộc đấu tranh quyết liệt, mà nếu những người chỉ huy không có một bản lĩnh chiến đấu kiên cường, sự quyết đoán, thì sẽ không thể chiến thắng. Nếu người chỉ huy điệp báo năm xưa, Ba Hoàng (tên thời hoạt động điệp báo của Thiếu tướng Huỳnh Huề) phải sống trong lòng địch để vận động quần chúng, cài cắm những nhân tố cách mạng mới, và chỉ cần một chút sơ sểnh có thể nguy hiểm đến tính mạng, thì hôm nay, cũng chính ông đã phải sống trong lòng quần chúng, cảm hóa họ bằng những chủ trương chính sách của Đảng, điều đó cũng không kém phần quan trọng. Ở những địa bàn nhạy cảm đó, thì cuộc đấu tranh giữ được lòng dân cũng thật gian khó. Ông nhớ lại những ngày còn hoạt động trong đội điệp báo A10, nguy hiểm đấy, gian nan đấy, vì ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh. Nhưng trong trận tuyến hôm nay, để thu phục được lòng dân cũng là cả một kỳ tích, không chỉ có lòng dũng cảm, mà còn bằng cả nhân tâm. "Có quá nhiều kỷ niệm trong hơn 35 năm làm công tác an ninh trong thời bình", kỷ niệm với những người dân bình dị, trên những vùng quê nghèo khó của đất nước trong công cuộc vận động quần chúng, một công tác trọng yếu mà nếu thành công sẽ quyết định đến sự gìn giữ bình yên cho đất nước. Những kinh nghiệm của một điệp báo năm xưa đã giúp ông rất nhiều trong công tác vận động quần chúng, với quan điểm lấy nhân dân làm gốc. Ông kể, hồi đó khi ông còn là Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ Chính trị phụ trách địa bàn phía Nam, Đồng Nai là một địa bàn trọng điểm của Công giáo với trên 800 ngàn giáo dân. Sau giải phóng nhiều vụ việc phức tạp đã xảy ra trên địa bàn. Giáo xứ Trà Cổ (Đồng Nai) đã tập trung đồng bào Công giáo di cư tranh chấp việc xây dựng một trường học. Chính quyền địa phương muốn xây dựng thành một ngôi trường khang trang, nhưng linh mục hội đồng giáo xứ không đồng tình nên đưa lực lượng ra ngăn cản, chặn đường, gây ách tắc giao thông nhiều ngày liền. Chính quyền địa phương đã đề xuất phương án dùng biện pháp mạnh để giải tán, nhưng giáo dân đã hò hét, gây rối không giải quyết được. Sau mấy ngày suy nghĩ, ông đã chọn giải pháp đề xuất chính quyền tỉnh Đồng Nai thuyết phục giám mục địa phận đến nói chuyện với giáo dân để thuyết phục họ và cuối cùng ông giám mục thuyết phục được giáo dân giải tán. Không có đổ máu, không có tranh chấp, mà chỉ bằng những lý lẽ xác đáng đi vào lòng người, đó là bí quyết cho những thành công trong việc thu phục nhân tâm. Nhưng ngồi nói chuyện với ông, ông không nhắc nhiều đến những chiến công, mà đầy ắp trong ông là những kỷ niệm về đồng đội trên chiến trường năm xưa, bình dị, ấm áp. Vợ ông, Thượng tá Nguyễn Thị Mỹ Hạnh cũng đã từng là đồng đội. Cô giao liên nhanh nhẹn ngày đó mới chỉ 22 tuổi đã lọt vào mắt xanh chàng trai điệp báo miền Trung, kiên cường, khí phách. Họ đã đi bên nhau trong suốt cuộc chiến tranh của dân tộc. Nên, nói về người vợ của mình, hậu phương vững chắc cho những người đàn ông suốt đời hy sinh niềm vui riêng tư cho công việc chung, trong ông có cả tình yêu và niềm tự hào. Ông có một người vợ, một đồng đội để thấu hiểu và chia sẻ trên con đường hoạn lộ quá nhiều chông gai này. Với những thành tích ông đã cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, và những đóng góp không mệt mỏi trong trận tuyến giữ bình yên cho đất nước hôm nay, tháng 3 năm 2010, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng ông danh hiệu cao quý, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Giờ ông đang đảm nhiệm cương vị Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk, một địa bàn trọng yếu của Tây Nguyên, đó cũng là một nhiệm vụ gian nan, mà tôi tin, với bản lĩnh của một người lính đã từng đi qua nhiều cuộc chiến, ông sẽ thành công