Đã gần bốn mươi năm nay, ông Phạm Văn Nam mang danh liệt sĩ. Một tờ giấy báo tử nhầm thời chiến tranh khiến gia đình ông mang nỗi đau xót hơn 10 năm trời cho tới khi ông bỗng trở về. Bên quán nước chè nhỏ của gia đình ở phố Bế Văn Đàn, Hà Đông (Hà Nội), ông lần kể lại cuộc đời éo le và cũng thật hạnh phúc của mình…

Ông Nam bên quán nước chè nhỏ.

Trở về từ cõi chết

Năm 1973, ông Nam 19 tuổi, viết đơn tình nguyện vào chiến trường và tham gia hầu khắp các mặt trận phía nam... Năm 1978, ông là lính trinh sát tại chiến trường Tây Nam. Trong một lần đi trinh sát, ông và đồng đội chẳng may rơi vào ổ phục kích của địch. Ông Nam bị thương nặng, về đến trạm quân y, bác sĩ không bắt được mạch, không đo được huyết áp và nhịp tim của ông. Ngỡ ông đã hi sinh, bác sĩ chuyển ông Nam qua nhà xác để chờ chôn cất.

Thân thể ông đã được bọc nylon, đặt nằm lẫn giữa những đồng đội đã hi sinh khác. Người y tá làm nhiệm vụ kiểm tra trước khi giao xác cho đội chôn cất đã phát hiện ra ông Nam vẫn còn thở và có mạch đập. Ngay sau đó, ông được chuyển lên tuyến trên. Nào ngờ khi ông vừa rời khỏi trạm quân y thì quân giặc tập kích, toàn bộ thương binh, bác sĩ, y tá của trạm đều hi sinh. Vì có tên trong danh sách tại trạm quân y, ông Nam bị đưa vào danh sách tử sĩ và có giấy báo tử gửi về địa phương.

Sau khi điều trị và khỏe mạnh trở lại, ông tiếp tục tham gia chiến đấu và nhận nhiệm vụ mới tại chiến trường Tây Nam ở An Giang. Lần này, ông bị trúng đạn vào đầu gây ảnh hưởng tới hệ thần kinh. Ông Nam bị liệt nửa người và được chuyển về trạm điều dưỡng ở Đầm Vạc - Vĩnh Phúc. Cuộc sống của một người lính vốn đã quen rẻo chân đi khắp các chiến trường nay bỗng dưng bất động một chỗ, tất cả phụ thuộc vào chiếc xe lăn và vào người khác. Ông buồn lắm.

Ông Nam trở nên bi quan vì nghĩ một người bị liệt nửa người như ông liệu còn có thể làm được gì. Ông không báo về gia đình mà mặc nhiên để bố mẹ coi như mình đã hy sinh, có lẽ như vậy đối với bố mẹ ông còn nhẹ nhàng hơn là hay tin con mình vẫn còn sống nhưng không lành lặn như hồi đôi mươi, ngày ông tươi cười, vẫy tay chào bố mẹ để lên đường nhập ngũ.

Tình yêu diệu kỳ

Có lẽ chẳng bao giờ ông Nam nghĩ được rằng, trong những ngày tháng bi quan nhất của cuộc đời mình, ông lại gặp được bà Nguyễn Thị Khánh, người đã vượt qua mọi khó khăn, rào cản để đến với ông, yêu ông bằng thứ tình yêu tròn đầy. Bà Khánh năm đó mới tròn đôi mươi và xinh xắn. Nhà bà Khánh cách trạm điều dưỡng 9 cây số.

Ông Nam nói: “Do bà ấy có bạn làm ở trạm điều dưỡng nên thường hay lên trạm chơi. Rồi trạm tổ chức giao lưu văn nghệ, tôi bắt đầu làm quen với bà ấy từ đó”.

Trong thâm tâm, ông Nam chưa từng nghĩ đến chuyện mình sẽ yêu một ai đó và có riêng một gia đình. Thế nên, khi anh em thương binh trong trạm điều dưỡng có ý gán ghép bà Khánh cho ông, ông chỉ cười. Nhưng rồi bà Khánh yêu ông thật và ông cũng yêu bà. Ông kể: “Ngày ấy, tôi nói với vợ mình rằng tôi chỉ có thế này thôi, tàn tật, ngoài ra chẳng có gì. Phải xác định thật rõ rồi hãy yêu”.

Hàng tuần, bà Khánh đi bộ từ nhà lên thăm ông. Tình yêu ngày xưa và nhất là tình yêu của lính mộc mạc và giản dị lắm. Mỗi lần bà lên thăm ông, hai người chỉ trò chuyện với nhau nhiều là được 1 tiếng còn không chỉ được khoảng 30 - 40 phút rồi bà lại phải về. Nhà ngoại phản đối không đồng ý cho bà Khánh yêu ông. Ông Nam hiểu điều đó. Ông tàn tật, đi lại còn chẳng xong thì đời nào họ dám gửi gắm con gái cho ông. Ông để bà Khánh tự quyết định.

Tình yêu của hai người đơm hoa kết trái vào năm 1985 khi đám cưới được tổ chức. Anh em thương binh cùng y bác sĩ trong trại điều dưỡng mỗi người góp một chút cho đám cưới của ông. Đám cưới ông không có ảnh, không có lời chúc phúc từ hai bên gia đình, cũng không có hoa giăng pháo nổ mà chỉ có kẹo bột, có lời chúc của anh em và tình cảm nồng ấm từ mọi người.

Ông Nam nói, những điều đó đủ để ông cảm thấy mình hạnh phúc và quá may mắn. Sau đám cưới ít lâu, ông Nam chuyển lên trạm điều dưỡng ở huyện Thuận Thành, Bắc Ninh để điều trị. Con gái nhỏ của ông bà cũng ra đời vào khoảng thời gian này. Và cô con gái đầu cùng người vợ yêu thương chính là hai động lực lớn khiến ông quyết định tập luyện để có thể đi lại được.

Sau 2 năm ở trạm điều dưỡng Bắc Ninh, thấy sức khỏe của mình đã khá hơn, ông Nam quyết định viết đơn xin về nhà. Người lính được báo tử hơn 10 năm trước giờ trở về cùng vợ con khiến gia đình ông không khỏi kinh ngạc. Khỏi phải nói về sự ngỡ ngàng và niềm vui khôn xiết của gia đình, họ mạc…

Niềm vui đoàn tụ chưa qua, vợ chồng ông Nam đã phải nghĩ đến việc làm gì để sống. Bà Khánh mở một quán nước nhỏ ở ngay trước nhà. Còn ông Nam bắt đầu bước vào quá trình luyện tập.

Ông nói: “Tôi bắt đầu tập từ năm 1991, đến năm 1993 thì tập tễnh đi lại được. Cánh tay bị liệt cũng cử động được ít nhiều. Những ngày đầu, tôi cứ tập lết từ nhà ra đến ngõ. Chân tôi đau lắm, toác máu, trầy xước hết. Nhưng tôi nghĩ thế này, tôi sinh ra đi lại được, chiến tranh xong để lại hậu quả thì tôi phải tự biết cách để khắc phục. Tôi còn vợ con, làm sao nằm mãi một chỗ được”.

Giờ ông Nam đã đi được những quãng ngắn còn những đoạn xa ông vẫn phải nhờ tới sự trợ giúp của hai cây nạng. Mỗi khi trời đổi tiết, những vết thương lại khiến ông đau nhiều. Ấy vậy mà người “liệt sĩ” này vẫn đi khắp nơi để tìm hài cốt đồng đội mình.

Có những ngôi mộ ông Nam đi tìm do chính tay ông trước đây chôn, cũng có những liệt sĩ ông tìm phần mộ theo giấy báo tử. Việc đi tìm mộ liệt sĩ của ông Nam thường không có lịch trình cụ thể và cố định trước: “Có những lần hôm sau đi, thì hôm nay tôi mới báo cho vợ. Cũng có lần, tôi chỉ kịp nói với vợ một tiếng rồi đi luôn”.

Người nhà của liệt sĩ nhờ ông đi cùng để tìm phần mộ nói cho taxi đến đón ông ra sân bay Nội Bài, ông gạt đi, nói để ông tự đi xe miễn phí. Xe miễn phí của ông ở đây là 2 chặng xe buýt, “vừa nhanh, vừa rẻ. Tôi chỉ cần mang theo đôi nạng nữa là được”, ông nói.

Chân đi xa vẫn phải chống nạng vậy mà có những lần đi tìm mộ liệt sĩ, ông cùng đoàn người đi bộ vào rừng sâu tới 10 ngày liền rồi mới quay ra. Nhưng ông không ngại khó, không ngại khổ và ông lại càng vui hơn khi được vợ ủng hộ. Ông cười vui: “Bà ấy không ngăn tôi đâu. Bà ấy chỉ trách tôi mỗi khoản vẫn còn uống rượu”.

Nếu không có công việc gì, hàng ngày, ông Nam lại ngồi ở quán nước. Những đồng đội cũ của ông qua đây luôn. Họ trò chuyện với nhau về những ngày tháng đã qua và về cả cuộc sống đang hối hả ở hiện tại. Con gái và con trai của ông đều đã trưởng thành. Cuộc đời của ông Nam như vậy cũng là vẹn toàn và có lẽ hạnh phúc cũng đã đong đầy trái tim ông.