SGTT - Ngôi nhà của ông Kỳ Hữu Phước và bà Gái vợ ông đơn giản như mọi ngôi nhà trong cái làng Sình này. Rót chén trà xanh mời chúng tôi, ông vừa vỗ vỗ vào bức tường gạch: “Nhà tui mới xây lại kiên cố sau trận lụt lịch sử năm 1999. Năm đó nước cuốn trôi sạch, may mà cứu được mạng người với thùng tranh và mộc bản”. Câu chuyện hai lần cứu nghề tranh của ông Phước bắt đầu như vậy.

Xuống đất, lên trần Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước và 42 tấm mộc bản tranh làng Sình mà ông đang gìn giữ Nhớ lại thời điểm năm 1989, ông Phước ngậm ngùi: “Hồi đó cứ cái gì bị coi mê tín dị đoan là cấm đoán ghê lắm. Tính trước là nếu bị truy ra thể nào người ta cũng tịch thu hết bộ bản khắc gia truyền của nhà mình, thế là tôi đóng hết vào hòm gỗ chôn sau vườn”. Quả đúng như ông Phước đoán, rất nhiều bản khắc gỗ bị tịch thu và đem ra chặt củi. Nghề truyền thống hàng trăm năm của làng đến thời điểm đó coi như tiêu tan. Nhưng con người yêu nghề đến liều lĩnh đó vẫn quyết tâm giữ nghề. Giữ được tranh và mộc bản, ông Phước chưa cảm thấy thỏa mãn bởi nhiều khi lại nhớ nghề. Thế là ông bàn với vợ làm cái hầm nhỏ trong nhà. “Tôi hì hục đào cái hầm vừa là nơi cất tranh vừa là nơi tôi… chui xuống vẽ khi nào nhớ nghề quá”. Cũng phải nhắc qua về tranh dân gian làng Sình. Chẳng ai biết nghề đã có từ khi nào, chỉ biết chắc chắn là từ khi có cái làng này. Ngay lễ hội vật, thực ra, cũng ra đời từ tranh. “Trước kia cứ ngày mồng 9 tháng giêng cả làng làm lễ dâng hương tổ nghề tranh ngoài đình”, ông Phước kể. “Rồi sau khi làm lễ người ta mới bắt đầu đấu vật. Sau vì hội đấu vật mở rộng quy mô nên mới dành hẳn ngày mồng 10 để đấu”. Cũng dùng mộc bản và vẽ trên giấy dó, nhưng khác với tranh Đông Hồ, trong tranh Sình mộc bản là để in nét rồi từ đó mới đi màu bằng tay. Tranh Sình mang đậm yếu tố tâm linh. Người ta thường mua những bộ tranh Sình trong các lễ nghi đặc biệt như tết Nguyên đán, lễ thôi nôi, động thổ, cầu mong được mùa, xây nhà dựng cửa… chính vì thế tranh Sình chia thành tranh để thờ và tranh để hóa như hóa vàng. Năm 1996 là thời điểm ông Phước đưa những tấm mộc bản lên khỏi mặt đất và bắt đầu khôi phục nghề cổ. “Tôi thuyết phục được vài gia đình cùng làm tranh và mang ra chợ Đông Ba rao bán. Hóa ra người Huế vẫn nhớ và muốn dùng tranh Sình”. Chia sẻ 25 mộc bản cho mọi người trong làng, ông Phước tràn trề niềm tin rằng nghề của cha ông sẽ được khôi phục. Nhưng mọi chuyện mới chỉ bắt đầu... Nằm ven sông Hương nên trận lũ năm 1999 để lại những ảnh hưởng nặng nề cho dân làng Sình. Ruộng mất, nhà trôi, tài sản mất trắng, người dân Sình khốn đốn. Nhưng ông Phước lại chỉ lo cho thùng tranh với khắc gỗ: “Tôi cho hết vào một thùng xốp rồi treo lên. Khi có thuyền đến cứu, gia đình không mang được gì ngoài cái thùng này”. “Muốn giữ nghề phải giữ người” Bà Gái, vợ ông Phước đang thực hiện công đoạn phơi tranh Đến nay đã có 30 hộ dân ở làng Sình trở lại với nghề tranh dân gian. Nhưng tỷ lệ đó còn quá nhỏ và thu nhập thực tế của nghề vẫn chưa cao. Trung bình mỗi ngày vợ chồng ông Phước và bà Gái kiếm được 20.000 đồng, nghĩa là nghề truyền thống một năm chỉ mang lại cho họ vẻn vẹn 7 triệu đồng. “Làm sao mà bắt bọn trẻ theo nghề với hiệu quả kinh tế như thế được”, người nghệ nhân già trăn trở. Với sự giúp đỡ và tư vấn của chính quyền tỉnh Thừa Thiên – Huế và nhiều nhà nghiên cứu, vài năm gần đây ông Phước bắt đầu đón những đoàn khách du lịch nước ngoài tới tìm hiểu và mua tranh Sình. Bên cạnh đó, ông đang làm hồ sơ xin sở Công thương cấp kinh phí chương trình khuyến công để tổ chức hai lớp học nghề làm tranh trong năm 2010. “Tôi muốn dạy lại nghề cho bà con. Muốn giữ nghề phải giữ người. Hơn nữa tụi trẻ biết nghề sẽ tự sáng tạo thêm những mẫu tranh mới, các sản phẩm du lịch có giá trị hơn. Đó cũng là cách để bảo tồn và phát triển nghề truyền thống”, ông Phước tâm sự. bài Dung P. ảnh Mai Kỳ