* Một số gương mặt trong những thế hệ gạo cội ở báo Cứu Quốc

Nguoi muon nam cu - Anh 1

Nhà báo Thái Duy (bìa phải), nhà báo Trần Bảo Hưng (trái)
và nhà báo Lê Văn Ba (giữa).

May mắn của tôi khi về công tác tại báo Đại Đoàn Kết (năm 1984) là được nghe kể, tiếp xúc và làm việc với một thế hệ gạo cội của báo Cứu Quốc (tiền thân của báo Đại Đoàn Kết): Xuân Thu, Lửa Mới, Hải Như (TP. HCM), Nguyễn Tiêu, Hữu Tuấn, Thái Cương, Thái Duy (Hà Nội)…

Ông Xuân Thu có lẽ khi đó đã nghỉ hưu, nên tôi không được gặp, chỉ nhớ về ông với tác phẩm nổi tiếng “Bố con ông lão chăn bò trên núi Thắm”, mà mình từng được học ở phổ thông. Nhà thơ Hải Như nhỏ nhắn, sôi nổi và lịch lãm, rất quen thuộc với bạn đọc qua những bài thơ viết về Bác Hồ và TP. Hải Phòng. Đặc biệt bài hát “Thành phố Hoa phượng đỏ” (Thơ: Hải Như, nhạc: Lương Vĩnh), đã trở thành “thành phố ca” của Hải Phòng. Nhà báo Lửa Mới tôi chỉ được gặp một vài lần, nhưng ấn tượng về ông khá sâu đậm. Ông là cây bút phóng sự đình đám nhất của báo Cứu Quốc, với tính chính luận sắc bén và giàu trí tuệ. Ông từng được mời đến nói chuyện tại các trường Đảng và được cử đi đưa tin về Đại hội Đảng toàn quốc.

Tôi được làm việc với ông Nguyễn Tiêu không nhiều, khi tôi về báo thì ông đang làm Quyền Tổng biên tập và một thời gian sau thì nghỉ hưu. Ông đi đứng nhẹ nhàng, nói năng nhỏ nhẹ. Cứ có cảm giác là ông không quát tháo với ai bao giờ, giả dụ có quát thì cũng không quát to được. Điều đặc biệt là cả nhà ông đều làm báo, bà Tình – vợ ông, trước khi nghỉ hưu là trưởng Ban Quốc tế báo Lao động, người con duy nhất của ông bà là nhà báo Quốc Khánh, công tác tại báo Đại Đoàn Kết từ mấy chục năm nay… Làm việc với ông thật thích, không phải chỉ vì ông không nặng lời, mà còn bởi ông tôn trọng tối đa cá tính sáng tạo của phóng viên. Ông rất ít chữa bài của phóng viên (nhất là câu chữ) nếu thấy không cần thiết và có một câu nói nổi tiếng: Tớ không muốn động bút vào bài của các cậu. Các cậu còn trẻ, phải thận trọng, phải giữ lấy thân khi viết lách, khi làm việc. Có nghĩa là ông yêu cầu chúng tôi phải tự chủ, tự chịu trách nhiệm với bài viết của mình.

Nhà báo Thái Cương, khi tôi mới về báo đang làm Thư ký tòa soạn, ông có làm thơ, nhất là thơ châm biếm tuy không thật hay. Sau Cách mạng tháng Tám ông hoạt động phong trào, có thời gian phụ trách thiếu nhi. Ông thường kể với tôi trong số những đội viên mà ông yêu quý có Nguyễn Kiên, sau này là một nhà văn tên tuổi. Ông thường viết tiểu phẩm và thơ châm, ký tên Mai Lôi. Tôi có hỏi thì ông bảo ông ở tập thể Quỳnh Lôi. Với cương vị thư ký tòa soạn, ông làm việc tận tâm, tận lực, làm việc ngoài giờ đối với ông là chuyện thường ngày. Ông đặc biệt yêu thích văn nghệ, nắm rất vững thời sự văn nghệ và có tư duy rất thoáng. Còn nhớ năm 1984, tôi viết một bài trong đó có phê phán quan điểm của một số nhà thơ còn mang tư tưởng tiểu tư sản sau cách mạng tháng Tám, như “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” của Quang Dũng, ông nghiêm ngặt bảo tôi: “Sao cậu kỳ cục thế, đến bây giờ mà vẫn còn phê những câu thơ này. Đúng là bảo hoàng hơn vua”.

Nhà báo Hữu Tuấn là Phó Tổng biên tập của báo (khi làm thơ châm biếm ông ký tên Lã Vọng – một bút danh quen thuộc trong làng thơ châm biếm Việt Nam). Tôi tiếp xúc với ông không nhiều, vì có tới sáu, bảy năm ông sang làm chuyên gia, giúp bạn Campuchia xây dựng tờ báo mặt trận. Khi trở lại báo, ông tiếp tục công tác một vài năm rồi nghỉ hưu. Chữ ông to, rõ nét, đằng tả, trái ngược với tôi, chữ vừa lét nhét, vừa khó xem. Trong công việc ông hết sức nguyên tắc, điều gì thấy đúng ông bảo vệ đến cùng “ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời”. Tôi nhớ mãi chuyến đi công tác lên công trường thủy điện Hòa Bình cùng ông và nhà báo Văn An, Đỗ Hùng lái xe. Hôm ấy trời vừa mưa xong, nước dâng lên rất nhanh, chiếc Rumani “vừa đi vừa đẩy” già cỗi của cơ quan rú ga nhiều lần, nhưng cứ đứng ì ra giữa đập tràn. Nước đã dâng lên đến sàn xe, chiếc xe trôi dần về phía vực. Đang lúc nguy cấp thì có một chiếc xe tải công trường đi ngược chiều, quăng tời sang cứu. Sau cú hút chết ấy, chúng tôi cứ nói đùa: Có lẽ Chủ tịch Xuân Thủy (mới mất trước đó ít lâu) muốn tổ chức một tờ báo Mặt trận dưới âm phủ nên mời Hữu Tuấn (Phó Tổng biên tập), tôi (khi đó đang làm Thư ký tòa soạn), Văn An (phóng viên Văn xã) và Đỗ Hùng (lái xe) xuống để tổ chức tòa soạn.

Ông Hữu Tuấn còn là người rất đúng giờ trong sinh hoạt. Hôm đi công tác, đúng giờ là ông đi đánh răng, rồi đi ngủ. Mặc đèn vẫn sáng, chúng tôi đang nói chuyện oang oang, chỉ vài phút sau đã thấy tiếng ông ngáy đều đều. Có lẽ quy củ trong sinh hoạt và chịu khó tập thể dục nên mặc dù vốn yếu (hồi trẻ ông từng ốm rất nặng), ông vẫn sống và làm việc dẻo dai. Mấy năm nay bước vào độ tuổi 90 sức khỏe có kém, nhưng trí óc vẫn minh mẫn. Còn nhớ những năm ông ngoài 70, sáng sớm mùa đông vẫn thấy ông quần đùi, áo may ô chạy dưới phố Ngô Văn Sở…

Người tôi muốn dành nhiều câu chữ nhất trong bài viết này là nhà văn – nhà báo Thái Duy (tức Trần Đình Vân), bởi điều đơn giản là cuộc đời làm báo của ông có nhiều điều đặc biệt và cũng bởi tôi được làm việc với ông nhiều nhất so với các bậc tiền bối nói trên. Điều đặc biệt đầu tiên là trong bốn, năm mươi năm làm báo ông chỉ duy nhất làm cho tờ báo Mặt trận: hết báo Cứu Quốc đến báo Giải Phóng rồi báo Đại Đoàn Kết… cho đến khi nghỉ hưu. Sau năm 1954 (trước đó ông từng làm báo ở Điện Biên Phủ), ông cùng nhà văn Sao Mai bám trụ ở Hải Phòng (bởi theo Hiệp định Giơnevơ, sau 300 ngày Hải Phòng mới được trao trả cho ta). Ngày ngày ông đi khắp thành phố còn tạm chiếm săn tin, viết bài, rồi bí mật gửi về Hà Nội theo đường giao liên đặc biệt. Ông cũng là một trong những người đầu tiên của báo Cứu Quốc vào miền Nam chi viện cho báo Giải Phóng. Ông kể: “Sống như Anh” viết về Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, là loạt bài ông gửi ra để đăng phơi ơ tông trên báo Cứu Quốc. Nhưng lúc bấy giờ tất cả bài vở từ chiến trường gửi ra đều chuyển về Ủy ban Thống Nhất. Loạt bài này được chuyển đến nhà thơ Tố Hữu, phụ trách Ban Tuyên huấn, rồi sau đó được Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc. Tên “Sống như anh” là do Thủ tướng đặt.

Ngày ông vào mặt trận, đường đi còn khó khăn lắm. Chuẩn bị qua sông Bến Hải, giao liên phát cho mỗi người 8 nắm cơm để ăn trong 4 ngày, vì không thể đun nấu được ở những vùng xa dân, nhưng lại gần giới tuyến. Giao liên cũng dặn, các đồng chí muốn vất cái gì đi cho khỏi nặng thì vất, nhưng dứt khoát không được vứt tăng đi. Có người hỏi tại sao, giao liên trả lời: Vì tăng, lúc nghỉ mắc làm võng, nếu có ai chết thì tăng là đồ liệm, là áo quan để an táng. Và thực tế đã diễn ra như vậy. Đất nước thống nhất, trở ra Bắc ông tiếp tục viết bài cổ vũ những nhân tố mới trong xã hội. Thái Duy là một trong những người đầu tiên ủng hộ phong trào khoán chui ở Đồ Sơn (Hải Phòng). Lần ấy Tổng Biên tập Lê Điền cùng Thái Duy xuống Hải Phòng để viết về một chủ đề khác, nhưng nghe chuyện khoán ở Đồ Sơn, các ông đã đến tìm hiểu và khi về Hà Nội quyết định dành 8 trang (trong số 16 trang của số báo) để ủng hộ khoán của Hải Phòng. Đây là một việc làm sáng suốt và cũng thật là dũng cảm trong tình hình lúc bấy giờ. Sau này ông vẫn tiếp tục đi tiên phong trong những vấn đề bức xúc của đời sống. Bạn đọc chờ đợi những bài viết nóng hổi tính thời sự và tính chiến đấu của Thái Duy.

“Sống như Anh” viết về Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, là loạt bài ông gửi ra để đăng phơi ở tông trên báo Cứu Quốc. Nhưng lúc bấy giờ tất cả bài vở từ chiến trường gửi ra đều chuyển về Ủy ban Thống Nhất. Loạt bài này được chuyển đến nhà thơ Tố Hữu, phụ trách Ban Tuyên huấn, rồi sau đó được Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc. Tên “Sống như anh” là do Thủ tướng đặt.

Nhà báo Thái Duy

Thái Duy đi đến đâu cũng được đồng chí, đồng bào, đồng nghiệp yêu mến. Bao nhiêu năm công tác, năm nào ông cũng đi Sài Gòn 5 – 7 bận, có năm nửa năm ở miền Nam, nhưng ông chưa bao giờ nhận một vé máy bay của cơ quan. Đi đến đâu ông cũng được bè bạn chăm lo, săn sóc. Báo Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi trẻ, Phụ nữ thành phố… là những địa chỉ thân quen của ông, ở đó luôn có những người bạn, người em, người cháu… chờ đón ông. Thái Duy cũng là người không bao giờ ngồi làm việc ở cơ quan. Tòa soạn dành cho ông một bàn làm việc, nhưng ông không ngồi bao giờ, dành phần cho người khác. Ông bảo: Tớ “hầu hạ” 8 đời tổng biên tập, nhưng đứa nào cũng yêu mến tớ”. Suốt đời ông chỉ là phóng viên, rồi sau này được gọi là phóng viên đặc biệt – phong mồm cho oai thế thôi. Còn nhớ có thời kỳ báo thiếu lãnh đạo, cấp trên nói Thái Cương đến thuyết phục Thái Duy làm Phó Tổng biên tập. Ông Thái Cương bảo tôi cùng đến nhà Thái Duy. Thái Duy bảo, tớ cả đời chỉ thích làm lính, năm nay 58 tuổi rồi còn ham hố gì, và ông nhất định không nhận bất cứ chức vụ nào. Ông Phạm Văn Kiết (Năm Vận) khi làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Mặt trận có lần nói: “Anh Thái Duy là trường hợp đặc biệt, sẽ không nghỉ hưu. Chỉ khi nào anh ấy yếu quá thì mới được nghỉ”.

Sau này khi đã 70 tuổi ông mới được nghỉ hưu. Thế đã là ưu ái quá rồi, nhưng với ông, với ngòi bút, ông chưa bao giờ nghỉ. Ông viết có khi còn nhiều hơn trước, ngòi bút cũng sắc bén hơn. Khi tôi là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam khóa 6, nhân họp bàn kỷ niệm 50 năm thành lập Hội, tôi có đề nghị trao Huân chương Độc lập cho một số nhà báo lão thành, trong đó có ông Thái Duy. Không ai phản đối nhưng cũng chẳng có ai thực hiện, thành ra cho đến nay, Thái Duy cũng chỉ có 2 huân chương niên hạn: là Huân chương kháng chiến chống Pháp và Huân chương chống Mỹ. Ông chẳng bao giờ để ý đến điều này, nhưng tôi vẫn cảm thấy áy náy, hình như những người đi sau chưa thật sự quý trọng công lao người đi trước.

Những năm gần đây, sức khỏe yếu nhiều, mắt nhìn không rõ, ông bảo với chúng tôi: Tớ bây giờ nhìn kém lắm, nếu có gặp ở đường chào tớ mà tớ không chào lại là do tớ không nhìn thấy, đừng chấp nhé! Ở tuổi xưa nay rất hiếm, ông vẫn hóm hỉnh, sắc sảo và đầy nhiệt huyết.

Trước khi khép lại bài viết này, xin có lời bộc bạch: Tôi viết về các bậc lão thành với tất cả lòng yêu mến, hoàn toàn từ trí nhớ. Nếu có gì sai sót, mong các ông và bạn đọc lượng thứ.

Trần Bảo Hưng