Hơn chục năm nay, ông Bùi Văn Giáp luôn cần mẫn với cái công việc quyét lá đa cho Mộ Lao - một làng cổ nằm ngay giữa Hà Nội.

Sống như cái tên của làng Làng Mộ Lao thuộc phường Mỗ Lao, quận Hà Đông nằm cạnh con sông Nhuệ. Làng thờ huyền tích về thánh Cao Sơn, người đã có công cùng dân khai đất lập làng. Ngay cái tên Mộ Lao cũng có từ xa xưa với ý nghĩa ca ngợi truyền thống chăm chỉ lao động của cư dân gốc nông nghiệp với nghề trồng lúa nước và dệt canh cửi. Bảo tồn hồn làng trong phố, nay đang có sự hiện diện của một tổ hợp đình (thờ Đức thánh Cao Sơn) và hàng chục cây đa cổ thụ. Mỗi ngày, dưới tán đa to rộng bao phủ cả một không gian đậm nét truyền thống ấy là một ông già vén áo, xắn quần để quyét thứ “vàng rơi, vàng rơi…”. “Cụ Giáp là một người kiên trung nhất với nhiệm vụ chăm sóc đình và vuốt rễ đa. Trước đó, đã có một vài người do hội người cao tuổi đề nghị ra làm, nhưng họ đã bỏ cuộc”, ông Bạch Ngọc Thụy, một người làng Mộ Lao cho biết. Cần mẫn như một chú ong thợ, mỗi sáng, ông Giáp thức dậy từ lúc 5h. Tay cầm chổi, mắt tìm hết những chiếc lá đa đã rụng từ đêm qua. Ông quyét hệt như một người già đi quyền, có lúc nhanh, có lúc chậm. Theo đường chổi của ông là màn sương sớm tan, ánh mặt trời ló rạng; tiếng trống đánh vang báo hiệu giờ vào học đã đến của thầy cô giáo và học sinh trường Tiều học Mộ Lao; tiếng loa phát thanh đang vang những ca khúc của một trường Mần Non đóng đô gần đó. Khi đường làng nhộn nhịp người qua, ông Giáp thường nhận về bao lời tấm tắc của kẻ qua đường: “Sạch quá đi cụ ơi!” hoặc “Nghỉ đi, cụ Giáp ơi. Bữa sáng đã nguội…”. Ông ngước mắt lên nhìn, rồi cặm cụi quyét tiếp. Sạch đến chân tường của nhà dân xung quanh. Sạch đến cái sân của nhà văn hóa xóm để người lớn đánh cầu lông, đi bộ; trẻ con chơi đá bóng, đá cầu…Đó cũng là lúc mà sân đình Mộ Lao đã tinh tươm lá đa, một làn gió thổi qua cũng không cất nổi hạt bụi. So với những bậc cao niên của làng, ông Giáp không thua về con đông cháu nhiều. Nhà có hẳn một biệt thự nhưng có lúc, ông ngủ luôn ở đình cốt cũng để cho tiện việc trông nom phần hương khói cho Thánh tọa ngôi đình và làm đầy thêm cái thú: vui với tiếng rơi của lá đa. Ông kể: “Những hôm trăng thanh gió mát, nằm nghe lá rơi trên mái đình mà ngỡ thiên thu tịch mịch, hồn làng hiện hữu…”. Làng Mộ Lao nằm gọn giữa trung tâm quận Hà Đông (Hà Nội). Làng cao sang bởi nhiều nhà cao tầng mới xây, với gara ô tô lịch lãm, và với cả những dãy trọ san sát cho người tứ xứ đến thuê. Đã có nhiều người xa xứ đi làm ăn, đi du học. Đã có nhiều người mới nhập cư ở làng. Quan sát điều này, ông Giáp thổ lộ: “Tôi muốn góp phần vào việc giữ gìn hồn làng đã có từ nghìn xưa để lại. Cốt là khi con cháu đi xa thì nhớ về quê cha đất Tổ”. Ông Giáp có biệt tài vuốt rễ đa. Từ khi nhận việc chăm sóc ngôi đình, ông đã tự tay xây “cơ đồ” cho những cổ thụ sống. Đặc tính của cây đa là khi vươn cao, xòe tán rộng thường buông rễ về cội. Ông Giáp đã “chộp” lấy sự sinh trưởng tự nhiên này để tạo nên thế cộng sinh cho đa. Có cây đa ông vuốt được gần cả chục cái rễ cắm sâu xuống đất, bên trên là những cành đa vững chãi trong thế song sinh. Vẻ đẹp này là sự hiếm có của loài đa khi sống ở bất cứ vùng thổ nhưỡng khác. Niềm vui tuổi già Mùa mưa, ông nhặt lá đem cất vào đình, đợi cái nắng hiếm hoi để phơi. Phơi đến độ cháy được là ông đem đốt. “Mũi tôi quen ngửi mùi lá đa như ngửi mùi thuốc bắc rồi”, ông hóm hỉnh thế. Tro tàn của lá đa, ông đem bón vào rễ đa. Cứ như ông là tham gia vào vòng tuần hoàn của một cổ thụ sống vì làng. Đã có lúc đôi chân viêm khớp của ông đau nhức, đi lại khó. Ông từng đi bộ đội, từng ở nhà tù Hỏa Lò rồi về làm thủ kho của thương nghiệp Hà Tây (nay thuộc về Hà Nội). Năm nay, ông đã bước sang tuổi 80 với cái vóc dáng gầy còm và vẫn chưa có ý định nghỉ quyét. Có nhiều lúc, ông nghe đứa cháu đọc thơ của Trần Đăng Khoa. “Đầu thềm rơi chiếc lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”. Đứa cháu hỏi ông như thế nào là “rất mỏng” và “rơi nghiêng”, ông khó mà diễn đạt hết bằng ngôn ngữ văn chương. Đành thôi, cầm tay dắt cháu ra ngồi dưới tán đa làng để cho cảm xúc đến được trong bài tập làm văn của cháu. Hội người cao tuổi cảm phục trước sự chịu khó của ông, trao cho ông chút tiền phụ cấp. Ông bảo: “Của chẳng đáng bao nhiêu, cốt là niềm vui tuổi này mình nhận được khi đã về hưu!”. Đã có những nồi xôi của làng Mộ Lao được nhóm lò từ những cành đa già cỗi rụng rơi mà ông Giáp nhặt nhạnh đem cho. Đã có những cô, cậu sinh viên tỉnh xa về làng trọ học thấy ông làm việc có ích, lúc rảnh cũng cầm chổi cùng ông. Đã có một cô gái cầm cuốn Chiếc Lexus và cây Ô liu của Thomas L. Friedman đọc cho ông nghe. Trong đó có đoạn: “Ô liu là loại cây quan trọng. Chúng đại diện cho những gì là gốc rễ của chúng ta, che chở cho chúng ta và đưa chúng ta vào thế giới này - dù cho chúng là tài sản của một gia đình, một cộng đồng, một bộ tộc, một đất nước, một tôn giáo hay một nơi được gọi là quê hương. Cành cây Ô liu cho ta mái ấm gia đình, niềm vui cá nhân, sự gần gũi trong quan hệ giữa con người, sự sâu sắc trong quan hệ lứa đôi, cũng như tính tự tin và khả năng vươn tới để đối phó với các quan hệ bên ngoài. Chúng ta tranh đấu triền miên để giành giật những cây Ô liu vì chúng cho ta cảm giác hãnh diện và hòa hợp- cảm giác thiết yếu cho con người tồn tại, cũng tựa như cơm ăn áo mặc….Cách diễn đạt tối thượng nguồn gốc cho chúng ta về ngôn ngữ, địa lý và lịch sử...”. Lúc ấy, ông vui và tỏ lòng hãnh diện, trỏ tay về cây đa mình trồng trong khuôn viên đình Mộ Lao và nói: “Câu Ô liu cũng giống cây đa làng của Việt Nam!”.