QĐND - Tôi tạm đặt tít bài báo này như vậy bởi với người thầy giáo già đã ở tuổi 85, Phó giáo sư Hồ Kiếm Việt, dường như tuổi tác không thể ngăn ông thôi mải miết cầm bút, kiếm tìm. Cuộc đời như tên gọi, ông luôn say mê nghiên cứu, tìm kiếm những tri thức lý luận phục vụ sự nghiệp xây dựng quân đội về chính trị, xây dựng Đảng...

Duyên nợ cầm súng, cầm phấn

Hơn 50 đại biểu dự Hội thảo khoa học về “Tổng kết công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) trong chiến dịch, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ 1945-1954”, hầu hết là sĩ quan cấp tướng, cấp tá đến trước mặt ông, kính cẩn: “Chào thầy ạ!”. Có người chào ông bằng bác, bằng chú.

Đại tá, PGS, TS, Nhà giáo ưu tú Hồ Kiếm Việt.

Ông sinh tuổi Đinh Mão (1927), người Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, từ nhỏ đã được ăn học cẩn thận. Cách mạng thành công, vừa mới 18 tuổi, đang làm Chủ tịch UBND cách mạng huyện lỵ Cẩm Xuyên, ông được trên cử đi làm nhiệm vụ quân sự, trở thành Chính trị viên Trung đội 1, thuộc Đại đội Giải phóng quân của huyện Cẩm Xuyên. Khi cấp trên chọn ông đi đào tạo làm cán bộ đại đội thì Đại đội trưởng Trường Sinh (nay 96 tuổi, đang sinh sống tại thị trấn Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) dỗ dành: “Cứ ở đây. Tớ dạy. Rồi đi đánh đồn Na-pê của Pháp ở biên giới Việt-Lào. Thích lắm!”. Bùi tai, lại đang sôi máu đánh giặc, ông ở lại liền… Sau trận đánh Na-pê, tháng 4-1946, ông bị sốt rét nặng. Bác sĩ Kham ở Bệnh viện tỉnh Hà Tĩnh ghi thẳng tuột vào bệnh án: “Không đủ sức khỏe, phải giải ngũ!”.

Ông Trường Sinh lại cũng chân tình như lần trước: “Thôi, không ở được thì về hoạt động địa phương!”. Thế là ông lại về Cẩm Xuyên, làm bí thư huyện đoàn…

Tháng Giêng năm 1950, anh Bí thư tỉnh đoàn Hà Tĩnh tái ngũ, lại đi theo nhịp sống kháng chiến: Trưởng tiểu ban “Âu phi vận” thuộc Ban địch vận Liên khu 4, Phó trưởng Tiểu ban địch vận tỉnh Quảng Bình, Bí thư chi bộ khối cơ quan tỉnh đội, Chính trị viên phó Đoàn 34, Quân khu 4… Tận tới lúc kết thúc chống Pháp, được giao phụ trách Tuyên huấn Trung đoàn 74 kiêm giảng viên tại chức về chủ nghĩa duy vật lịch sử, ông vẫn không quên những lần “phối hợp địch vận với tác chiến”, cùng Trung đoàn 95, Trung đoàn 101 chống địch càn quét, bảo vệ mùa màng cho dân. Có trận nhổ phăng 7 lô cốt địch ở phía nam Đồng Hới…

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông dự lớp đào tạo giáo viên lý luận Mác-Lê-nin, rồi được giữ ở lại Học viện Chính trị công tác. Hơn 47 năm ở đây, đeo lon đại úy đến đại tá, hưởng lương cấp tướng, ông có 21 năm đứng trên bục giảng môn Triết học, 10 năm làm Trưởng khoa CNXH khoa học, 15 năm chuyên viên, trong đó có 4 năm làm Giám đốc Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quân sự (nay là Viện KHXHNV quân sự), kiêm Tổng biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị-quân sự… Cuối năm 2001, ông nghỉ chờ hưu thì Đại tướng Văn Tiến Dũng mời tham gia Ban Tổng kết chiến lược của Bộ Quốc phòng, phụ trách viết “Bài học thứ 7” trong công trình khoa học “Tổng kết trên nửa thế kỷ Đảng lãnh đạo quân sự và quốc phòng trong cách mạng Việt Nam 1945-2000”. Thành ra, nghiệp viết lại cuốn ông cho tới khi Bộ Chính trị khóa X nghiệm thu công trình này vào tháng 9-2006.

Người lính “mùng 5 tháng Tám”

Dù có thành tích và phần thưởng trong nhiều lĩnh vực nhưng ông quý nhất một kỷ vật đặc biệt, ông thường gọi vui: “Thương hiệu “mùng 5 tháng Tám”. Thì ra, năm 1965, ông đi thực tế ở Quân khu 4. Sau khi Thiếu úy Nguyễn Viết Xuân-Chính trị viên Đại đội 3, Tiểu đoàn 14 Pháo phòng không, thuộc Sư đoàn 325 hy sinh trong trận đánh máy bay Mỹ ở Cha Lo (Quảng Bình) ngày 18-11-1964, quân khu cử ông làm phái viên, giúp đồng chí Nguyên, Chính trị viên phó của đại đội này tổ chức lãnh đạo đơn vị chiến đấu. Trong bảo vệ cầu Cự Nẫm năm 1966, Đại đội 3 phối hợp cùng các đơn vị bạn bắn rơi một "quạ sắt" Mỹ. Vì vậy, ông được nhận “Huy hiệu Chiến thắng 5-8”. Huy hiệu này do Bộ Quốc phòng tặng những người tham gia các trận chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ ở miền Bắc nước ta.

Ông đã viết hàng trăm bài nghiên cứu lý luận, một số sách, làm thư ký cho hai đề tài cấp Nhà nước. Có nhiều cuốn sách đề cập những vấn đề rất mới mẻ, ít người nghiên cứu hoặc chưa ai nghiên cứu vào thời điểm ông viết như: “Góp phần tìm hiểu đặc sắc tư duy triết học Hồ Chí Minh” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật ấn hành năm 2002, tái bản năm 2004). Ở tuổi ngoại bát tuần, ông vẫn đầy nhiệt huyết, tham gia đóng góp ý kiến vào việc tổng kết Cương lĩnh 1991 của Đảng. Ông đã gửi một công trình nghiên cứu dài 23 trang A4: “Suy ngẫm về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ luận điểm “quá trình lịch sử tự nhiên” trong vận động xã hội của Mác”. Nhiều nội dung thể hiện tư duy mới, sau này đã xuất hiện trong các văn kiện của Đảng.

Ông tâm sự: “Không hiểu sao, cái nghiệp viết chẳng phải lúc nào cũng “thuận chèo mát mái” mà mình lại gắn bó với nó suốt cuộc đời. Có lúc muốn dứt ra mà không được. Hơn 80 tuổi, như thế, thôi viết cũng được rồi. Ấy vậy mà vẫn không thể thôi được. Từ cái đã viết, lại nẩy ra ý mới, lại muốn đi sâu... Chưa viết được là cứ như đang mắc nợ ai!”…

Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG