NDĐT- Trong mọi cuộc chiến tranh và cách mạng, muốn chiến thắng đối phương, trước hết phải chiến thắng về mặt tư tưởng, phải khẳng định được chính nghĩa thuộc về mình.

"Tập thơ của Bác hấp dẫn, cảm động người đọc vì nhiều lý do. Đọc một trăm bài thơ, chúng ta cảm thấy thật sự đứng trước một thi sĩ và một con người cao cả, vĩ đại...( Đặng Thai Mai)

Các cụ ta làm công tác tư tưởng rất giỏi. Công tác tư tưởng ấy không chỉ đối với ta hay với địch mà là với cả hai.

Lý Thường Kiệt dùng thơ thần, ấy là lấy đạo trời để khẳng định quyền lãnh thổ thiêng liêng, khẳng định sự tất thắng của chính nghĩa, của ý chí độc lập trong bài thơ của ông. Điều đó không chỉ làm cho quân Tống không có lý lẽ gì biện bác mà còn khích lệ tinh thần quân sĩ của ta.

Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn không chỉ làm cho quân Thát biết quyết tâm của ta mà làm cho những ai trong vương tộc, binh lính của ta biết sỉ nhục để dốc lòng quyết tử diệt giặc cứu nước.

Nguyễn Trãi trong thư dụ hàng cho chủ tướng của giặc Minh là Vương Thông đã chỉ rõ, là bậc quân tử thì ắt phải biết thời thế, biết nghe những lời nói phải để vì hòa bình, hòa hiếu và sinh mệnh những người lính: “Ngài nếu cho là thành hào hiểm vững có thể cậy được, thì tôi e nước xa không cứu được lửa gần. Nếu bảo những quân dũng cảm trong thành còn nhiều, muốn quyết một trận sống mái, thì ngày trước tôi còn ở Khả Lam, Trà Lân, bọn các ông Phương Chính hàng vạn quân đều là mạnh giỏi, mà tôi chỉ có vài trăm quân một dạ cha con còn có thể đến đâu tan đấy, thế tựa chẻ tre; phương chi nay lấy các lộ Diễn, Nghệ, Thanh Hóa, Tân, Thuận, Đông Đô, chọn quân tinh nhuệ, không dưới vài mươi vạn, thì cái thế được thua có thể ngồi mà tính được”...

Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản đều lấy báo chí làm một vũ khí sắc bén để làm công tác tư tưởng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ khi còn là Nguyễn Ái Quốc, đã là bậc thầy của báo chí cách mạng Việt Nam.

Tháng 2 năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp và ngày 18 tháng 6 năm đó, đã gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm để kêu gọi lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng các lý tưởng của Tổng thống T. Wilson cho các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Đông Nam Á.

Bức thư dẫu không được Hội nghị chấp nhận, nhưng tiếng nói của những người dân thuộc địa đã gây một tiếng vang lớn. Đồng thời cũng chịu nhiều công kích. Ca-mi-lơ Đơ-vi-la, một nhà báo thực dân đã viết bài Giờ phút nghiêm trọng trên báo Courrier Colonial để đả kích Yêu sách của nhân dân An Nam và hành động của Nguyễn Ái Quốc. Ngay lập tức, Nguyễn Ái Quốc đã viết bài báo phản chiến Tâm địa thực dân. Đây là bài báo đầu tiên của Người và cũng là bài báo thể hiện được phong cách báo chí Hồ Chí Minh: Lập luận vững chắc, không khoan nhượng nguyên tắc, đả kích sâu cay và đậm chất hài hước nhưng luôn công bình, biết phân biệt và tranh thủ những người tiến bộ và chính trực ngay cả trong hàng ngũ thực dân.

Trả lời Đơ-vi-la, Người viết: “Ông Ca-mi-lơ Đơ-vi-la khao khát cái danh hiệu người yêu chuộng chân lý trong thế giới này và trong thế giới bên kia. Lòng khao khát ấy là chính đáng và hợp lý, chúng tôi vui lòng thừa nhận như vậy. Nhưng mong ông cho phép chúng tôi chỉ cho ông thấy rằng cái chân lý theo tâm địa của ông, cái chân lý theo quan niệm của bọn thực dân thù ghét dân bản xứ, không có gì là giống với chân lý của chúng tôi, cũng là không có gì giống với chân lý của những người Pháp tốt ở nước Pháp cả. Sở dĩ chúng tôi nhận xét một cách lịch sự như vậy, là nhằm tỏ thái độ tôn trọng quyền tự do ngôn luận”.(Hồ Chí Minh nhà báo cách mạng. Cao Ngọc Thắng, NXB Chính trị quốc gia, H, 2003, tr 15).

Không chỉ viết báo mà Người còn ý thức rõ, những người thuộc địa cần có một tờ báo riêng. Năm 1921, Người sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc Thuộc địa nhằm tập hợp các dân tộc bị áp bức đứng lên chống chủ nghĩa đế quốc. Năm 1922, Người lập ra báo Le Paria (Người cùng khổ), làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Năm 1925, Người cho xuất bản "Bản án chế độ thực dân Pháp" .

Cũng năm 1925, sau thời gian ở Liên Xô, Người về hoạt động ở Trung Quốc, tập hợp Việt kiều yêu nước thành lập tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu, ra Đường Kách mệnh, tờ báo sau này được coi là tiền thân của báo chí cách mạng Việt Nam.

SUỐT cả cuộc đời hoạt động của mình, khi cách mạng đã giành chính quyền và bản thân mình là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bác Hồ vẫn luôn coi trọng báo chí như một vũ khí đặc biệt lợi hại của công tác tư tưởng, một nhân tố làm nên thành công của cách mạng. Người đã viết hàng nghìn bài báo với hàng trăm bút danh khác nhau. Điều đó cho thấy Người là một nhà báo chuyên nghiệp, có một tư duy báo chí thường trực.

Đó cũng là lý do chúng tôi tìm hiểu Nhật ký trong tù trên phương diện báo chí.

Chính học giả Đặng Thai Mai cũng từng viết: “Tập thơ của Bác hấp dẫn, cảm động người đọc vì nhiều lý do. Đọc một trăm bài thơ, chúng ta cảm thấy thật sự đứng trước một thi sĩ và một con người cao cả, vĩ đại. Nhưng một mặt nữa, chúng ta cũng sẽ thấy rằng: trường hợp cấu tạo nên tập thơ ở đây cũng có những nét đặc biệt ly kỳ. Hiểu như vậy, tôi nghĩ rằng chúng ta nên đọc tập Ngục trung nhật ký như đọc một tập nhật ký, trước lúc đi vào những lĩnh vực khác như nghệ thuật thơ, như con người trong tập thơ này” (Đọc tập thơ Ngục trung nhật ký).

Nhật ký trong tù, đương nhiên là một tác phẩm văn học. Nhưng với tính trung thực, chính xác của các sự kiện, các chi tiết; với tính khuynh hướng rõ nét; Nhật ký trong tù có tính chất của một tác phẩm báo chí. Nó là một phóng sự kể về cuộc sống và ý chí của một chiến sĩ cộng sản bị giam cầm; là những bức ảnh chụp nhanh những cảnh đời trong nhà tù Tưởng Giới Thạch vào những năm 1942- 1943.

NÓI về tính khuynh hướng, Bác Hồ ta không bao giờ xa rời mục tiêu duy nhất và là khát khao cháy bỏng của mình: Độc lập, tự do cho dân tộc; hạnh phúc cho nhân dân. Hai chữ cách mạng, giải phóng luôn day dứt trong tâm trí Người, ngay cả bữa ăn, giấc ngủ:

Một canh, hai canh lại ba canh

Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành

Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt

Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh.

(Thụy bất trước – Bản dịch của Nam Trân).

Nói về tính chính xác, có lẽ không thể loại nào thuộc về văn học, báo chí lại chính xác, đáng tin cậy hơn nhật ký. Nhật ký trước hết viết về mình. Bác kể lý do mình bị bắt, về những nỗi khổ trong tù, tiêu biểu là “Tứ cá nguyệt liễu” (Bốn tháng rồi):

“Một ngày tù nghìn thu ở ngoài”

Lời nói người xưa đâu có sai

Sống khác lài người vừa bốn tháng

Tiều tụy còn hơn mười năm trời

Bởi vì:

Bốn tháng cơm không no

Bốn tháng đêm thiếu ngủ

Bốn tháng áo không thay

Bốn tháng không giặt giũ

Cho nên:

Răng rụng mất một chiếc

Tóc bạc thêm mấy phần

Gầy đen như quỷ đói

Ghẻ lở mọc đầy thân

May mà:

Kiên trì và nhẫn nại

Không chịu lùi một phân

Vật chất tuy đau khổ

Không nao núng tinh thần.

Những chữ “Bởi vì”, “Cho nên”, “May mà” chen giữa các khổ thơ giống như xu-tít những bài báo nói lên nguyên nhân, kết quả của sự kiện và cuối cùng là thái độ của chủ thể. Những chi tiết tuyệt đối chính xác ấy làm người đọc không thể không tin. Giá trị tố cáo chế độ nhà tù, sự cứng cỏi của bản thân, do đó cũng tăng lên.

Cảnh tù mà tác giả phải sống là từ ăn, ngủ, đi lại, hít thở… đều bị hạn chế. Là con người bị coi như con vật. Thơ tù của Bác trước hết là thơ kể về những nỗi đau khổ, đắng cay, về nỗi buồn, đôi khi tuyệt vọng của một người bị tước mất tự do, bị tước quyền làm người.

Bác viết: Ở tù năm trọn thân vô tội, Hòa lệ thành thơ tả nỗi này. Nỗi này, là những nỗi cụ thể: Đến buồn đi ỉa cũng không cho; là Đêm thu không đệm cũng không chăn, Gối quắp lưng còng ngủ chẳng an; Lót lòng mỗi bữa lưng cơm đỏ, Không muối không canh cũng chẳng cà; Cháo tù một bát chia từng bữa, Cái bụng luôn luôn cứ réo hoài…lại thêm việc bị giải đi giải lại Mỗi việc mỗi lời không tự chủ, Để cho người dắt tựa trâu bò

Ở tù, biết ngày nào mới ra tù, nên Bác đã từng thốt lên thất vọng: Bất tri giải đáo kỷ thời hưu (Chẳng hay còn giải đến bao giờ?). Trong cảnh ấy, người nào không sầu đau? Trong bài Đến Liễu Châu, Bác lại viết: Muôn cay nghìn đắng đâu vô hạn, Mồng chín ta vừa đến Liễu Châu, Ngoảnh lại hơn trăm ngày ác mộng, Tỉnh ra trên mặt vẫn vương sầu.

Ám ảnh. Sầu đến cả trong mộng! Mộng tan rồi mà sầu vẫn chưa tan. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay! Giá trị nhân đạo chính là ở những giá trị hiện thực ấy. Và có hiểu, có cảm thông với những gì Bác đã nếm trải qua những câu thơ hiện thực mới thấu hiểu hơn chí lớn của Bác qua những vần thơ khí phách và lãng mạn bay cao cánh hạc trong chính tập thơ này.

Ở trên, tôi nói thơ Bác có những bài thơ như bức ảnh. Xin nói thêm, đó là những bức ảnh thần tình, chụp được cả bản chất xã hội qua những chi tiết cụ thể, sinh động nhất.

Đây là cảnh gây xúc động, tố cáo cái phi lý. Việc chú ý đến khóe mắt, dòng lệ cũng nói lên tình thương yêu con người sâu sắc của tác giả:

Anh đứng trong cửa sắt

Em đứng ngoài cửa sắt

Gần nhau trong tấc gang

Mà biển trời cách mặt

Miệng nói chẳng nên lời

Nói lên bằng khóe mắt

Chưa nói lệ tuôn đầy

Tình cảnh đáng thương thật !

(Vợ người bạn tù đến nhà lao thăm chồng)

Còn đây tiếng khóc của em bé nửa tuổi sẽ vọng mãi với thời gian. Đời sau sẽ còn băn khoăn tự hỏi, rằng nhân loại đã từng có những luật lệ, những ứng xử dã man như thế ở thế kỷ XX:

Oa…! Oa…! Oa…!

Cha trốn không đi lính nước nhà

Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi,

Phải theo mẹ đến ở nhà pha.

(Cháu bé trong nhà ngục Tân Dương).

CHÚNG tôi muốn dừng lại một chút để nói về nghệ thuật thơ trào phúng của Nhật ký trong tù.

Bác Hồ đã không chỉ tiếp thu nghệ thuật thơ trào phúng của ông cha, của một dân tộc luôn biết lấy tiếng cười để làm niềm vui sống và vũ khí. Đồng thời như cách đặt vấn đề ở trên, nghệ thuật thơ trào phúng của Bác còn là nghệ thuật trào lộng của báo chí hiện đại.

Bác không sử dụng nhiều cách nói ngoa dụ, không dẫn giải dài dòng mà đi thẳng vào vấn đề, xếp các chi tiết, thường là chi tiết đối lập nhau để làm nổi bật chủ đề tư tưởng. Chính tác giả, như người chụp ảnh, không hề xuất hiện trong bức ảnh nhưng tự nội dung đã nói lên tất cả.

Trong bài thơ Cháu bé trong nhà ngục Tân Dương (Tân Dương ngục trung hài), tiếng phỏng thanh Oa oa oa , được viết bằng ký tự La-tinh giữa nguyên bản chữ Hán, giống như chi tiết nổi bật nhất của tin báo chí, được tác giả đưa lên đầu. Phàm là người, hễ nghe tiếng khóc trẻ em, dù đang làm gì cũng phải lắng nghe, chú ý.

Ngoài những bức tranh cảm thương, còn có những bức tranh gây cười. Đánh bạc (Đổ) là một ví dụ:

Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội

Trong tù đánh bạc được công khai

Bị tù con bạc ăn năn mãi

Sao trước không vô quách chốn này?

Ô, thì ra pháp luật là một cái nực cười nhất, có thể đảo ngược. Điều cấm chỗ này, với người này lại có thể là tự do với người khác, chỗ khác. Sau cái cười, buộc chúng ta phải suy ngẫm. Tương tự với Đánh bạc Vấn thoại, Bác rút ra: công lý là cái gì mập mờ, ở giữa… Một tác phẩm lớn là tác phẩm dành nhiều chỗ nhất cho người đọc cùng tham gia, cùng tiếp tục suy ngẫm.

“Đăng quang phí” – Tiền đèn - là một thí dụ khác. Lệ gì có lệ lạ đời là người vào tù phải nộp một khoản tiền gọi là tiền đèn 6 đồng bạc Quảng Tây!. Lại là chi tiết chính xác của báo chí, nhưng ngay sau đó là một khái quát hóm hỉnh:

Vào chỗ tối tăm mù mịt ấy

Quang minh đáng giá bấy nhiêu tiền!

Cái chân lý, cái sự “quang minh chính đại” của chế độ ấy, chỉ đáng giá bấy nhiêu!

Để hiểu rõ xã hội, đặc biệt là đời sống quan lại của Trung Quốc dưới thời Tưởng Giới Thạch, thiết tưởng không có gì chân thực hơn bài thơ Lai Tân của Bác:

Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc

Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh

Chong đèn huyện trưởng làm công việc

Trời đất Lai Tân vẫn thái bình!

Ta có thể so sánh với xã hội Truyện Kiều, đầy rẫy những bất công, xấu xa, vậy mà Nguyễn Du hạ một câu Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng. Nếu xã hội không thái bình, phẳng lặng thì sự thể còn đến đâu!

GS Đặng Thai Mai đã nghe một Hoa kiều kể qua một người khác như sau: “Các quan huyện hồi đó bên ấy khi làm việc quan có bao giờ phải đốt đèn (thiêu đăng) đâu. Ngài đốt đèn hút thuốc phiện đấy thôi! Đó là sự thật các huyện đường Quảng Tây dưới thời Tưởng”.

Thơ Bác không chỉ tố cáo. Tôn trọng sự thật khách quan, thể hiện được nhân cách của người biết thủy chung, ân nghĩa; Nhật ký trong tù có nhiều bài thơ ca ngợi những người cai ngục, những viên quan tốt như Lưu Sở trưởng, Hầu Chủ nhiệm…

Và trên đường bị giải đi, bằng quan sát tinh nhạy của một nhà báo, Bác đã phản ánh được những điều tai nghe, mắt thấy và cả những điều sau đó. “Phóng sự” ngắn sau đây làm ta hiểu và cảm thông hơn đối với đất nước và nhân dân lao động Trung Hoa:

Vùng đây tuy rộng, đất khô cằn

Vì thế nhân dân kiệm lại cần

Nghe nói xuân nay trời đại hạn

Mười phân thu hoạch chỉ vài phân.

(Long An – Đồng Chính).

Nhật ký trong tù là một bản hợp xướng lớn in đậm tính chất hiện thực, tính chất báo ch, ngoài việc tạo nên giá trị nhân đạo, tinh thần phản kháng bất công; còn là nguồn sử liệu quý để có thể viết nên những tác phẩm văn học, điện ảnh về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, về xã hội Trung Hoa vào thập kỷ 40 của thế kỷ XX.

TS NGUYỄN SĨ ĐẠI