Một bài thơ thành công thì không chỉ nói với cái đầu và trái tim mà nói với cả các tế bào của người đọc, nơi những hạt giống của mục đích, của vũ trụ đã được gieo từ nguyên thủy, như thể các nhiễm thể của chúng ta đã được xếp đặt như những viên đá lát đường, viên này tiếp theo viên khác, tạo nên những con đường im lặng và vững chắc bên ngoài sự hiểu biết của lý trí. Bài thơ thành công, vì thế, với một loại tri kiến đặc thù, chạm vào từng tế bào khiến từng tế bào ngân lên như một chiếc chiêng đồng, cho đến khi hàng triệu tế bào trong cơ thể người đọc, trong một khoảnh khắc, trở thành một dàn hòa tấu rung động và dâng cao với âm nhạc của nhận thức, một dàn giao hưởng phong phú và nhất quán của vũ trụ.

Các nhà thơ nhận thức rằng ngôn ngữ thì bất xứng để diễn tả những gì họ muốn nói, tuy nhiên, một cách nghịch lý, họ lại chọn ngôn ngữ như phương tiện của họ. Có lẽ vì họ không muốn nói gì cả. Họ chỉ muốn gợi lên bất cứ điều gì họ có thể gợi lên được, chẳng hạn, một tâm trạng, một kinh nghiệm, thậm chí một ý tưởng. Chính nhận thức này khiến họ khởi sự sử dụng ngôn ngữ để diễn tả những gì không thể nói. Kỹ năng của thi ca là thứ kỹ năng mà qua đó các nhà thơ sử dụng chữ để truyền tải kinh nghiệm: Họ không nói bài thơ có ý nghĩa gì, họ cũng không giáo huấn. Họ chỉ trình bày, và đón nhận (hoặc mời gọi) độc giả tham dự vào tác phẩm ngay trong khi đọc. Thoát khỏi những câu chữ sáo mòn, ngôn ngữ của các nhà thơ bám sát vào những cảm quan. Các nhà thơ quan sát thế giới xuyên qua thân thể của họ, bởi vì họ nắm bắt được cái hồn của nhãn giới bên trong làn da của họ. Vì thế, họ sử dụng ngôn ngữ đầy những ấn tượng cảm quan gọi là những hình tượng. Hình tượng không bao giờ nên dùng để trang trí. Nó phải luôn luôn chứa đựng cái nhìn, luôn luôn uyên áo và dẫn dắt độc giả đến cái kiến quan toàn thể của bài thơ. Nhà thơ là một kẻ dùng chữ để mang hoan lạc đến cho mọi người. Nhưng nhà thơ cũng giữ một vai trò mang tính xã hội và tinh thần, qua đó, nhà thơ vừa ban phát hoan lạc vừa nhắc nhở cho chúng ta những gì quan trọng trong cuộc sống của chúng ta, nhiều khi đó là những gì chúng ta đã quên hay đã đánh mất từ các truyền thống văn hóa và trong cảm quan về vị trí của chúng ta giữa vũ trụ. Trong bài thơ, nhà thơ cho phép chúng ta tái khám phá bản ngã tâm linh của mình. Chức năng của nhà thơ là giúp chúng ta nối kết lại với những cảm nhận của chúng ta, hay, trong một ý nghĩa sâu sắc hơn, khai mở cho chúng ta một lần nữa cái “cảnh giới nguyên sơ”- tức là những mục đích của tâm/thân của cả chủng loại con người và của chính cuộc sinh tồn, mà từ căn nguyên đã nằm sẵn trong các nhiễm sắc thể của chúng ta. Có thể nói, không phải chỉ như một giả thuyết, các nhà thơ là những lương y. Bài thơ là phương thuốc của họ. Trong ẩn dụ này, căn bệnh của người đọc là họ không biết, hay đã quên, tại sao họ có mặt trong thế giới này và họ sẽ đi về đâu. Như những lương y của tinh thần, các nhà thơ dùng những bài thơ của mình để trả lời cho những câu hỏi của người đọc, và trong khi làm vậy họ cho phép người đọc trải qua cái kinh nghiệm mà trong đó người đọc có thể bằng tâm linh, một lần nữa, trở về với hòa điệu của vũ trụ. MARCUS, MORTON (HNT dịch)