(TNTT>) Giờ thì lớp nhà văn mở đầu cho nền văn học kháng chiến của chúng ta như: Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Kim Lân…đã trở thành lớp người “cổ lai hy” rồi, đều ở bên kia thế giới rồi, nhưng tình bằng hữu văn chương giữa các ông trong những năm gian khổ ấy vẫn luôn là tấm gương cho thế hệ cầm bút sau này soi vào và ngẫm nghĩ.

Trong những lần trò chuyện với anh em viết trẻ chúng tôi, nhà văn Kim Lân cho biết ông cầm bút vì nhiều nguyên nhân ẩn ức chứa chất trước sự bất công trong đời sống xã hội nơi làng quê thời trước cách mạng. Sinh ra ở một miền quê bị trói buộc bởi nhiều hủ tục phong kiến, lại ở vào thân phận mặc cảm là con một người vợ lẽ, bị khinh ghét, ngay từ thuở thiếu thời, Kim Lân đã có ý chí tự lập thân, tự vươn lên khá mạnh mẽ. Tâm trạng ẩn ức này thể hiện khá rõ trong các truyện ngắn đầu tay của ông như: Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu, Người kép già, Vợ nhặt, Làng, Con chó xấu xí… Trong những buổi đầu đến với văn chương, Kim Lân đã gặp gỡ Nguyên Hồng (lúc ấy đã là một nhà văn nổi tiếng với các tác phẩm Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu, Bảy Hựu, Quán Nải), và tình bằng hữu văn chương đã gắn bó các ông trong suốt một thời gian dài từ trước cách mạng đến kháng chiến và sau này trong hòa bình. Có lần tâm sự với tôi, nhà văn Kim Lân khẳng định: Có thể nói trong cuộc đời viết văn của ông, kể từ khi gặp Nguyên Hồng, ý thức viết văn chuyên nghiệp của Kim Lân mới dần dần được hình thành sáng rõ, vì thời gian trước đó, ông viết theo cảm hứng và viết để giải tỏa những bức xúc, ẩn ức mà mình thấy cần phải cầm bút để nói lên nỗi bất hạnh của những phần đời tăm tối trước cách mạng. “Ông Nguyên Hồng thấy tôi nghèo nghèo, khổ khổ nên ông ấy cũng thương. Vào cái năm đói 1945, tôi thường mang truyện ngắn đến nhờ Nguyên Hồng “bán” hộ cho các tờ báo lớn, trong đó có nhiều chuyện viết về phong tục và thú chơi của các làng quê ở xứ Kinh Bắc. Phải nói, Nguyên Hồng là một người thầy của tôi mới đúng. Mười sáu tuổi, Nguyên Hồng đã viết Bỉ vỏ. Từ đấy ông viết liên tục, miệt mài cho tới cuối đời. Suốt đời, Nguyên Hồng chỉ viết, suốt đời vật lộn với trang giấy. Ông dám sống, dám gạt bỏ, dám nhận lấy những thiệt thòi và dành trọn vẹn cuộc đời cho tác phẩm”, Kim Lân nhận xét. Có lần, nhà văn Kim Lân rất mừng rỡ khi một bạn văn may mắn tìm lại được một số truyện ngắn của ông đã in trước cách mạng trên một số tờ của báo “Trung Bắc chủ nhật” và “Tiểu thuyết thứ bẩy” mà ông đã quên bẵng hơn nửa thế kỷ vì mất bản thảo. Trao đổi với tôi, nhà văn cứ ngơ ngẩn, xuýt xoa kêu tiếc vì không bao giờ có thể tìm lại đủ các số của 2 tờ báo nói trên trong những năm ấy. Ông phàn nàn: “Những truyện ngắn này tôi in từ năm 1942-1945 rồi quên bẵng đi mất, không nhớ rằng mình đã từng viết chúng như các truyện: Người kép già, Chó chết, Món đồ mừng, Người ta, Đứa con người cô đầu… Tiếc rằng một số truyện ngắn khác cũng đã từng in mà bây giờ mất bản thảo không sao tìm lại được như: Tông chim Cả Chuống, Ông pháo, Chim họa mi, Chó săn, Trạng vật… Riêng truyện ngắn Chó săn của Kim Lân được nhà văn Lan Khai khen và nhà văn Vũ Bằng viết lời đề dẫn. Có một số truyện ngắn ông viết về thú chơi và phong tục làng quê, ông Vũ Bằng đổi bút danh từ Kim Lân thành Lan Kim (vì có ý muốn giữ bút danh Kim Lân cho những truyện ngắn đã nổi tiếng). Chính Vũ Bằng đã khuyên Kim Lân: “Ông viết về đời sống nghèo khổ ở nông thôn thì làm sao bằng được cụ Ngô Tất Tố, ông hãy viết về thú chơi và phong tục nông thôn thì một mình ông “một chiếu””. Nhà văn Kim Lân không ít lần xuýt xoa: “Tiếc nhất là tiếc cho Nam Cao chứ không phải là tiếc cho tôi, Nam Cao viết nhiều in khỏe và cũng giống như mấy nhà văn hồi ấy, ông không lưu lại báo và cũng chẳng còn bản thảo”. Kim Lân kể lại chuyện đãng trí của nhà văn Nguyễn Công Hoan, khi mới về Hà Nội, được ông chủ nhà xuất bản Tân Dân ngưỡng mộ, biếu đầy đủ trọn vẹn một tập “Tiểu thuyết thứ bẩy”. Nguyễn Công Hoan mừng rỡ đem báo về cắt lấy những truyện ngắn của mình in trên đó, rồi sau đó, sơ ý bán toàn bộ số báo cũ này cho một cô hàng đồng nát mà quên mất rằng trên các số báo đó còn rất nhiều sáng tác của nhiều nhà văn đương thời cũng giống mình, bị mất bản thảo sau kháng chiến, lúc chợt nghĩ ra, nhà văn muốn đuổi theo cô hàng đồng nát đòi lại báo mà không kịp. “Thế có nẫu ruột không chứ, vì trên “Tiểu thuyết thứ bẩy”ngày ấy còn nhiều truyện ngắn của Nam Cao mà sau này không thấy có mặt trong các tuyển tập truyện ngắn của ông…”, nhà văn Kim Lân buốt ruột nói. Nguyễn Việt Chiến