Trong bối cảnh Việt Nam đang nhập siêu từ Thái Lan và con số này ngày càng tăng thêm khi người Việt đang có xu hướng “sính ngoại”, cần tìm ra nguyên nhân nhập siêu từ Thái Lan và bàn các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường Thái Lan, khắc phục tình trạng nhập siêu, hướng tới mục tiêu cân bằng hơn trao đổi thương mại giữa hai nước.

8 nguyên nhân khiến nhập siêu từ Thái Lan tăng mạnh

Theo báo cáo của Vụ Thị trường châu Á-châu Phi, sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN, kim ngạch trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan tăng nhanh.

Giai đoạn 1995-2008, kim ngạch thương mại hai chiều tăng từ mức 541 triệu USD năm 1995 lên mức 6,2 tỷ USD năm 2008 (tăng trên 11,4 lần) với tốc độ tăng trưởng trung bình vào khoảng gần 20,6%/năm. Mức nhập siêu từ thị trường Thái Lan cũng tăng từ 339 triệu USD năm 1995 lên 3,62 tỷ USD năm 2008, tăng trung bình 20%/năm cho cả giai đoạn 1995-2008.

Trong giai đoạn 2009-2016, tốc độ tăng trưởng thương mại Việt Nam-Thái Lan ở mức thấp hơn, đạt khoảng 11,7%/năm, từ mức 5,78 tỷ USD năm 2009 lên 12,54 tỷ USD năm 2016, nhập siêu tăng từ 3,25 tỷ USD năm 2009 lên 5,16 tỷ USD năm 2016.

Trong 8 tháng đầu năm 2017, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đạt khoảng 9,64 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu sang Thái Lan đạt khoảng 3,07 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu từ Thái Lan đạt 6,57 tỷ USD, Việt Nam nhập siêu từ Thái Lan 3,5 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2016.

Năm nhóm mặt hàng nhập khẩu lớn nhất từ Thái Lan trong 8 tháng đầu năm 2017 là: Hàng điện gia dụng và linh kiện (646 triệu USD), rau quả (618 triệu USD), ô tô nguyên chiếc (432 triệu USD), xăng dầu các loại (406 triệu USD), chất dẻo nguyên liệu (403 triệu USD), linh kiện phụ tùng ô tô (340 triệu USD).

Lý giải về tình trạng nhập siêu tăng nhanh, bà Lê Hoàng Anh, Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Á-châu Phi đã phân tích 8 nguyên nhân chủ yếu.

Thứ nhất, chúng ta vẫn nhập khẩu từ Thái Lan như các mặt hàng điện, điện tử gia dụng và linh kiện, rau quả, máy vi tính, sản phẩm nhựa, sắt thép, các sản phẩm gia dụng như chất tẩy rửa, mỹ phẩm, đồ dùng nhà bếp, sản phẩm nội thất… Riêng năm 2016, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng điện gia dụng và linh kiện, linh kiện phụ tùng ô tô, ô tô nguyên chiếc, rau quả đã chiếm tới 30% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Thái Lan.

Thứ hai, Việt Nam đang thực hiện lộ trình giảm thuế theo cam kết trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), hiện Việt Nam đã xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với xấp xỉ 90% tổng số dòng thuế và sẽ xóa bỏ thuế đối với 98% số dòng thuế vào năm 2018.

Mặt khác, Thái Lan đã thiết lập được các kênh phân phối vững chắc và đang tiếp tục mở rộng tại Việt Nam. Các tập đoàn bán lẻ hàng đầu của Thái Lan như Central Group, TCC Group đã tiến hành mua bán, sáp nhập các chuỗi bán lẻ tại Việt Nam thời gian qua là điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp Thái đưa trực tiếp hàng Thái tới người tiêu dùng Việt Nam.

Thứ tư, thực tế, người tiêu dùng Việt Nam vẫn có tâm lý ưa chuộng hàng Thái Lan, cả về giá cả, mẫu mã và chất lượng, đặc biệt là các mặt hàng điện, điện tử, sản phẩm gia dụng, hoa quả và hàng tiêu dùng khác.

Thứ năm, Chính phủ Thái Lan dành ngân sách khá lớn cho việc triển khai với quy mô lớn và có hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại tại thị trường Việt Nam trong thời gian qua. Hàng năm, có khoảng 12 đến 20 hội chợ hàng Thái được Bộ Thương mại Thái Lan tổ chức tại Hà Nội, TPHCM và các tỉnh/thành phố khác.

Thứ sáu, nhiều mặt hàng nhập khẩu từ Thái Lan thuộc nhóm cần nhập khẩu để phục vụ sản xuất, tiêu dùng chiếm tới 50% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Thái Lan, gồm có: máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; xăng dầu các loại; chất dẻo nguyên liệu; hóa chất; nguyên phụ liệu dệt may, da giầy; vải các loại; giấy các loại; xơ, sợi dệt các loại; thức ăn gia súc và nguyên liệu...

Thứ bảy, các hoạt động mở rộng đầu tư của doanh nghiệp Thái Lan tại Việt Nam cũng dẫn tới việc tăng nhập khẩu các mặt hàng phục vụ sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.

Cuối cùng là do trước đây, nhiều mặt hàng tiêu dùng chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc, nay chuyển sang nhập khẩu từ Thái Lan do người tiêu dùng đánh giá tốt hàng Thái so với hàng Trung Quốc.

Không cực đoan dùng rào cản thương mại

Nhìn nhận về cán cân thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan thời gian qua, ông Dương Duy Hưng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch cho rằng, dù nhập siêu từ Thái Lan nhưng cần có một cái nhìn khách quan hơn bởi “việc nhập siêu trong quá trình hội nhập là vấn đề bình thường”.

"Cơ cấu hàng Thái Lan và Việt Nam khá tương đồng, ngoài vấn đề xử lý hàng rào kỹ thuật thì phải xuất phát từ chính năng lực sản xuất trong nước, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp," ông Hưng nói.

Bà Lê Hoàng Anh đề nghị, để giải quyết vấn đề nhập siêu cần tiếp tục thực hiện các biện pháp quản lý nhập khẩu theo quy định để đảm bảo chất lượng của các sản phẩm nhập khẩu từ Thái Lan đáp ứng các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, các tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho rằng, hàng rào kỹ thuật không phải biện pháp để hạn chế hàng nhập khẩu từ Thái Lan.

“Hàng rào kỹ thuật là để bắt buộc ta nâng cao hàng nội địa. Rau quả ta vẫn phun thuốc sâu thế kia làm sao cạnh tranh với họ được. Hàng rào kĩ thuật phải gắn với nâng cao chất lượng sản phẩm chứ không phải công cụ để quản lý sản phẩm”, Bộ trưởng kiên quyết.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cũng đồng tình với quan điểm cần nhìn nhận tổng thể vấn đề nhập siêu từ Thái Lan bởi “vấn đề chính không chỉ là ý chí của các cơ quan quản lý mà cần tuân theo nguyên tắc thị trường”.

“Ta không phải hạn chế nhập siêu mà phải phát triển bền vững thương mại của ta, mà bền vững không phải là phải giảm tuyệt đối con số nhập siêu này đi. Có thể chấp nhận nhập siêu ở mặt hàng này nhưng xuất siêu ở mặt hàng khác, đây là quy luật của thị trường”, Bộ trưởng nói.

Bộ trưởng nhấn mạnh, trong hội nhập, vấn đề năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và doanh nghiệp mới là yếu tố quyết định. Tuy nhiên, từ chính sách, định hướng điều hành có thể hỗ trợ để doanh nghiệp phát triển bền vững.

Bộ trưởng cũng yêu cầu các đơn vị liên quan rà soát, đánh giá lại thể chế pháp lý, quản lý Nhà nước về thị trường, tìm ra những bất cập tồn tại trong giai đoạn hiện nay trong thời kỳ hội nhập.

“Chúng ta hướng tới sự phát triển bền vững, không cực đoan dùng rào cản thương mại. Ví dụ như, ta không dại gì ồ ạt mở rộng nhà máy đường trong khi năng lực của ngành mía đường ta đi sau Thái Lan, ta cũng không thể hi vọng cạnh tranh với Thái Lan ở những lĩnh vực họ đi trước ta. Ta chỉ có thể bền vững được nếu khẳng định được năng lực cạnh tranh của ta”, lãnh đạo ngành Công Thương nhấn mạnh.

Phan Trang