(TBKTSG Online) - Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ được góp vốn mua cổ phần ở các ngân hàng bị kiểm soát đặc biệt. Đây cũng là một trong các biện pháp nằm trong đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng đã được thông qua vào tháng 2 năm ngoái.

Thanh Thương

Ngân hàng Nhà nước sẽ trở thành cổ đông lớn tại một số ngân hàng diện kiểm soát đặc biệt. Ảnh: Thanh Tao.

Việc góp vốn mua cổ phần của NHNN sẽ được thực hiện theo Quyết định số 48/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, được ban hành tuần qua và có hiệu lực từ ngày 20-9-2013.

Theo đề án trên, biện pháp mua lại cổ phần của tổ chức tín dụng yếu kém được thực hiện sau khi tổ chức tín dụng đã đảm bảo được khả năng chi trả nhờ được hỗ trợ tái cấp vốn từ NHNN.

Cụ thể, NHNN trực tiếp mua lại vốn điều lệ hoặc cổ phần của tổ chức tín dụng yếu kém để chấn chỉnh, củng cố, lành mạnh hóa một bước. Sau đó sẽ tiến hành sáp nhập, hợp nhất với tổ chức tín dụng khác hoặc bán lại cho nhà đầu tư có đủ điều kiện.

Trước đó, trong phiên chất vấn trước Quốc hội vào tháng 6 vừa qua, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cũng cho biết đang trình Thủ tướng về việc cho phép NHNN được mua cổ phần, góp vốn tại các ngân hàng.

Theo quyết định mới ban hành, NHNN thực hiện việc góp vốn, mua cổ phần bắt buộc bằng tiền hoặc chuyển đổi một phần hoặc toàn bộ giá trị dư nợ cho khoản vay đặc biệt, dư nợ cho vay tái cấp vốn (nếu có). Cơ quan này có thể sử dụng các công cụ nợ do NHNN phát hành để thực hiện việc góp vốn, mua cổ phần. Đến khi hoạt động của tổ chức tín dụng được tham gia góp vốn trở lại bình thường, NHNN có thể thoái vốn thông qua việc bán cổ phần cho nhà đầu tư mới.

Ngoài ra, quyết định này cũng quy định việc các tổ chức tín dụng khác cũng được NHNN chỉ định tham gia góp vốn, mua cổ phần bắt buộc tại một số ngân hàng yếu kém. Số vốn mà các tổ chức này được chỉ định, các hình thức góp vốn, thời gian thực hiện sẽ do NHNN quyết định.

Các tổ chức tín dụng thuộc diện kiểm soát đặc biệt, theo khoản 2 điều 149 Luật Tổ chức tín dụng, bao gồm các tổ chức có lỗ lũy kế vượt quá vốn điều lệ và các quỹ dự trữ được ghi trong báo cáo tài chính đã kiểm toán. Những tổ chức này nếu chấm dứt hoạt động có thể gây mất an toàn hệ thống theo quy định của khoản 3 điều 149, Luật Tổ chức tín dụng

Các tổ chức tín dụng được chỉ định sẽ được NHNN hỗ trợ cho vay tái cấp vốn, cho vay đặc biệt, cho phép tạm thời áp dụng một số chỉ tiêu về an toàn trong hoạt động ngân hàng ở mức không tương đương như các tổ chức bình thường, và NHNN sẽ hỗ trợ các biện phép để xử lý khó khăn tạm thời.

Cũng theo NHNN, đến nay cơ quan này đã trình Thủ tướng Chính phủ 8 phương án cơ cấu lại đối với 9 ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém, trong đó 3 ngân hàng đã được hợp nhất với nhau, 1 ngân hàng sẽ được hợp nhất với tổ chức tín dụng khác, 1 ngân hàng đã được sáp nhập, 3 ngân hàng đã được chấp thuận phương án tự cơ cấu lại. Đối với 1 ngân hàng yếu kém còn lại, NHNN đang thẩm định phương án do ngân hàng này đề xuất và có khả năng phải sử dụng biện pháp can thiệp bắt buộc.

Trong 9 ngân hàng nói trên, hiện tại 3 ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa, Đệ Nhất và Thương mại cổ phần Sài Gòn đã hợp nhất, Habubank cũng đã được sáp nhập vào SHB, Westernbank cũng đã được thông qua chủ trương sáp nhập với Công ty Tài chính cổ phần Dầu khí (PVFC), TrustBank cũng đã được một nhóm cổ đông trong nước mua cổ phần chi phối và đổi tên thành Ngân hàng Xây dựng. Đại Á Bank cũng có phương án sáp nhập với HD Bank. Ngoài ra, Navibank cũng đã có phương án tự tái cơ cấu. Hiện tại chỉ còn GP Bank chưa công bố phương án cụ thể.

Theo báo cáo thanh tra giám sát 6 tháng đầu năm của NHNN, một số tổ chức tín dụng yếu kém chưa được xử lý dứt điểm, đặc biệt là một số ngân hàng thương mại cổ phần và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

Báo cáo này cho rằng quá trình tái cơ cấu diễn ra không thuận lợi do phải lấy ý kiến của các bên không liên quan và nhiều cấp có thầm quyền, khuôn khổ pháp lý về xử lý tổ chức tín dụng yếu kém chưa hoàn thiện, thiếu các chế tài mạnh, quy trình, thủ tục cưỡng chế, can thiệp bắt buộc. Đồng thời cũng thiếu cả các nhà đầu tư trong và ngoài nước có đủ tiềm lực tài chính, trình độ quản trị sẵn sàng đầu tư, tham gia cơ cấu lại. Bên cạnh đó, môi trường kinh tế và thị trường tài chính chưa thuận lợi cho việc thu hút vốn mới tham gia vào quá trình này.

Theo thạc sĩ Nguyễn Thành Minh, Trưởng bộ môn Thẩm định, khoa Tín dụng, Đại học Ngân hàng, việc NHNN mua lại vốn góp và tham gia vào quá trình tái cơ cấu ngân hàng thương mại chưa hẳn đã là một quyết định nên làm. Trên thực tế, ở các ngân hàng yếu kém, việc cần nhất chính là cải tổ hệ thống quản trị, đặc biệt là quản trị rủi ro. Việc này rất phù hợp với các ngân hàng nước ngoài, vốn có thế mạnh về quản trị rủi ro theo hệ thống. Vì vậy, nếu để các chủ thể này tham gia vào tái cơ cấu sẽ là lựa chọn phù hợp lúc này. Trên thực tế, do số lượng các ngân hàng nằm trong diện tái cơ cấu không lớn nên sẽ khó có chuyện nhà đầu tư nước ngoài chi phối toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Trong khi đó, nếu NHNN đã tham gia vào, lại tái cơ cấu quản trị rủi ro của các ngân hàng yếu thì sẽ áp đặt mô hình quản trị rủi ro theo chuẩn Việt Nam và như vậy, sẽ không nhiều nhà đầu tư nước ngoài còn muốn tham gia vào, do để thay đổi sẽ còn phức tạp hơn nhiều.

Nói về việc trong giai đoạn khủng hoảng, một số các tổ chức tín dụng, công ty của Mỹ cũng đã được Chính phủ mua lại một phần cổ phần, sau đó tái cơ cấu thành công và thoái vốn, ông Minh cho rằng đó là trong trường hợp ở nước này quản trị rủi ro theo hệ thống đã được triển khai từ lâu và không khó để tiếp quản và thay đổi. Còn tại Việt Nam, thường quản trị rủi ro chỉ chú trọng ở khâu tác nghiệp, chưa có cái nhìn bao quát đến toàn hệ thống.

Ông Minh cho rằng khi tái cơ cấu xong, khả năng NHNN thoái vốn sẽ bán cho các nhà đầu tư nội địa trên thị trường chứng khoán hơn là nhà đầu tư nước ngoài. Nhưng ông Minh cũng lo ngại với một cơ quan điều hành vĩ mô như NHNN khi tham gia vào quản lý kinh doanh như một doanh nghiệp sẽ không phù hợp. Vì vậy, NHNN chỉ nên là người đứng ngoài, chỉ đạo các tổ chức tín dụng khác tham gia và tiến hành can thiệp thị trường bằng các công cụ như một ngân hàng trung ương.