Chiến tranh đã lùi xa gần 4 thập kỷ, nhưng với mỗi người lính đã từng ra chiến trường, dù trực tiếp xông pha trận mạc hay thầm lặng làm công tác hậu cần, ký ức về những tháng năm oanh liệt ấy vẫn còn vẹn nguyên. Ông Hà Quang Đả, dân tộc Tày, cựu lính hậu cần Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 24, Quân đoàn 4, là một trong những người lính thầm lặng ấy.

Nhập ngũ chưa đầy 1 tháng, tháng 10/1972, Tiểu đoàn của chàng thanh niên dân tộc Tày, Hà Quang Đả, 22 tuổi, đến từ miền núi Tuyên Quang, được lệnh vào chiến trường.

Chặng đường hành quân tròn 3 tháng vào chiến trường không kém phần khốc liệt, gian khổ, khi lực lượng ngụy quân, ngụy quyền tập trung bắn phá hệ thống giao thông chiến lược của ta, sử dụng những phương tiện chiến tranh hiện đại, kể cả vũ khí hóa học, để chặn đường chi viện từ Bắc vào Nam. Ông Đả kể lại: “Trước lúc lên đường, chỉ huy dặn dò chúng tôi rằng: Các đồng chí vào đến chiến trường bình an vô sự đã là hoàn thành 50% nhiệm vụ rồi!”.

Thú vui tuổi già của người lính hậu cần năm xưa.

Ba tháng hành quân dọc dải đất miền Trung, sang Lào và qua Campuchia, ông và đồng đội thấm thía những khốc liệt của bom đạn, của chiến tranh. Hình ảnh những anh bộ đội ba lô trên lưng, ngụy trang đi thành hàng thẳng tắp, những đoàn xe, pháo nối đuôi nhau thật oai hùng, dũng mãnh. Những chặng đường đó còn mưa bom, bão đạn của quân thù, còn là những khắc nghiệt của thiên nhiên, những cơn mưa rừng bất chợt, những con nước lớn chặn đứng đường hành quân. Khi lại là cái nắng gió, là bụi đất đỏ cao nguyên, là những trận sốt rét, là những đêm trơ trọi giữa rừng... Ông Đả nhớ lại: “Để tránh địch tấn công, tiêu diệt, đơn vị hành quân chủ yếu vào ban đêm. Nguy hiểm nhất là những khi qua sông, qua đò bởi địch thả bom sáng rực trời, có sang tới bờ bên kia mới biết mình còn sống”.

Lần hành quân đến bến đò Xuân Sơn (Bố Trạch, Quảng Bình) cả đơn vị nghe tiếng báo động có máy bay, vội vàng tìm chỗ trú ẩn. Ông và đồng đội phải nhảy xuống những hầm ngập nước mưa để tránh bom. Trước khi vào đường 20, đơn vị của ông bị mắc kẹt ở một bến nước có tên gọi là Khe Tang, khe không quá sâu để đi phà nhưng cũng không lội qua được, ô tô đến giữa dòng thì bị chết máy. Do hai bên bờ địch thả bom napan, bom phát quang nên chỉ trơ lại đất và những gốc cây, không ngụy trang được nên anh em trong đơn vị càng lo lắng hơn, đợi hồi lâu mới qua được nơi nguy hiểm. Một địa điểm khác mà ông nhớ mãi là đèo Pulanhích, lính tráng hay gọi là “đèo Cua lê nhích”, để nói về mức độ nguy hiểm của con đèo, những khúc cua nguy hiểm, nhích từng chút một. Bên dưới là vực sâu, nhiều xe nằm lại dưới vực này nên đi qua phải rất thận trọng, đúng là “lê, nhích” từng chút vì phải qua đèo vào lúc trời tối rất nguy hiểm.

Sau gần 3 tháng hành quân, đơn vị tập kết ở Bình Phước. Cùng đồng đội đào hào, làm nhà, ăn Tết xong thì cả đơn vị di chuyển xuống Tây Ninh. Là lính mới nhập ngũ, chưa được rèn luyện nhiều nên tiểu đoàn cử ông làm công tác hậu cần, nhiệm vụ chủ yếu là đi mua thực phẩm cho đơn vị. Suốt mấy năm trời, một mình ông với chiếc xe đạp cà tàng không phanh, không gác đờ bu, vừa đi vừa bục lốp và hai quả lựu đạn lặn lội khắp các chợ để đảm bảo cái ăn cho cả trăm người trong căn cứ giữa rừng, xa dân cư.

Mỗi lần đi mua hàng là phải mất hai, ba ngày đường, chuyện đi tiếp phẩm gặp mưa, lũ, lạc trong rừng, ngủ bờ ngủ bụi với ông là chuyện thường ngày. Lần đơn vị chuyển đến Dầu Tiếng, ông đi từ sớm tinh mơ xuống Thanh An tìm chợ, dọc đường đi xe bị bục lốp, phải dừng lại sửa rồi lại đi tiếp. Đến nơi, do không có thực phẩm, nên ông phải đi sang Trảng Xa để mua. Qua sông Sài Gòn vào lúc trời đã tối, đang không biết đêm sẽ ngủ đâu, thì ông gặp bộ đội cho về trại tăng gia ngủ nhờ. Sáng hôm sau hai anh em đi chợ từ tờ mờ sáng, nhưng vì xe ông hỏng liên tục nên khi ông đi tới nơi thì chợ đã tan. Ông nghĩ, anh em trông vào mình, không thể về đơn vị mà không có thực phẩm nên ông lại ngủ lại, chờ hôm sau mua hàng tiếp. Quay lại đơn vị đã là ngày thứ tư, đồng đội xúm lại hỏi han vì cứ ngỡ ông đã gặp chuyện chẳng lành.

Có lần đi tiếp phẩm về không kịp, đơn vị chuyển quân gấp đi nơi khác, mình ông phải lặn lội với xe hàng đi theo sau. Có lần ông lạc vào trong rừng cao su, thời tiết mùa mưa thất thường, lúc đi mua hàng trời nắng chang chang, đất mục ngập mắt cá chân nhưng khi về trời mưa, nước lũ ngang ngực, một bao cá khô 50 kg, ông phải chia đôi rồi một mình vác bao cá, lội nước lũ chuyển hàng.

Ông kể, hồi ấy ngoài gạo và đồ khô được cấp phát, thức ăn tươi cho bộ đội cũng hiếm lắm, nên ngoài những giờ đi mua thực phẩm, ông cùng hai đồng chí cấp dưỡng thường hái rau rừng để cải thiện, mùa nào thức ấy, từ rau lang rừng, thầu lầu, cây muôn thục... Đơn vị ông cũng tăng gia sản xuất, chăn nuôi, trồng ngô, khoai sắn. Trước khi gấp rút di chuyển tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, tiểu đoàn ông còn cả một ổ lợn nái phải cử hai đồng chí ở lại trông rồi cả đơn vị hành quân ngay trong đêm theo cánh quân Tây Nam tiến về Sài Gòn.

Đất nước thống nhất, đến năm 1976, ông Hà Quang Đả trở về quê hương tiếp tục làm công nhân ở Xí nghiệp cơ khí nông cụ Chiêm Hóa. Sức khỏe của ông cũng yếu dần bởi di chứng của những trận sốt rét, những năm lăn lộn trong vùng Mỹ rải chất độc da cam, đến năm 1986 ông nghỉ chế độ mất sức.
Trở về sinh sống tại xã Phú Bình, Chiêm Hóa, ngoài công việc đồng áng, ông là thành viên tích cực tham gia công tác Đảng bộ thôn, Hội Cựu chiến binh, là thành viên trong ban phát triển thôn bản, vận động bà con xây dựng đời sống mới, phát triển kinh tế. Phát huy tinh thần của người lính Cụ Hồ, ông luôn tận tình nhắc nhở bà con nhân dân xây dựng đời sống văn hóa mới, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Ông được bà con trong vùng rất kính trọng, tin tưởng và năm 2013 ông được bầu là người có uy tín, tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương

Ông Đả tâm sự: “Một thời gian khổ đã qua, nhưng trong tôi những ký ức đó luôn còn mãi. Mỗi năm, cứ đến ngày 30/4, ngày 22/12 tôi và các đồng đội vẫn thường gặp gỡ cùng nhau ôn lại những kỷ niệm và tới trường học trong xã để trò chuyện với các thầy cô giáo, với các em học sinh, kể lại những câu chuyện của một thời bom đạn chiến tranh để thế hệ trẻ thêm yêu và trân trọng những gì chúng ta có ngày hôm nay.”

Bài và ảnh:Hà Liên