QĐND - Theo Nghị quyết số 70/2014/QH13 ngày 30-5-2014 của Quốc hội về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII năm 2014 và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 thì tên của dự án Pháp lệnh là “Pháp lệnh quân nhân chuyên nghiệp và công nhân, nhân viên quốc phòng”. Tuy nhiên, để phù hợp với Hiến pháp và bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với quy định của các luật khác, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã quyết định nâng Pháp lệnh lên thành Luật, đồng thời chỉnh lý lại là “Luật Quân nhân chuyên nghiệp (QNCN) và công nhân (CN), viên chức quốc phòng (VCQP)”. Chỉ trong thời gian ngắn, nhưng được sự quan tâm của lãnh đạo Bộ Quốc phòng, các thành viên Ban soạn thảo và Tổ biên tập đã tập trung chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật, kịp báo cáo Ủy ban Quốc phòng và an ninh của Quốc hội thẩm tra và trình UBTVQH cho ý kiến tại Phiên họp thứ 41 (tháng 9-2015). Sau khi xem xét, UBTVQH đã quyết định trình Quốc hội bổ sung vào Chương trình làm việc Kỳ họp thứ mười của Quốc hội khóa XIII và đề nghị Quốc hội xem xét, thông qua dự án Luật theo quy trình tại một kỳ họp.

Nhung thay doi quan trong - Anh 1

Thường trực Ủy ban Quốc phòng và an ninh của Quốc hội làm việc tại Quân chủng Phòng không - Không quân. Ảnh: THỊNH PHÚC

So với dự thảo Luật do Chính phủ trình ban đầu thì dự thảo Luật được UBTVQH trình Quốc hội xem xét, thông qua đã được chỉnh lý nhiều nội dung theo ý kiến của cơ quan chủ trì thẩm tra và ý kiến thảo luận của các vị đại biểu Quốc hội tại tổ chiều 27-10 và thảo luận tại hội trường chiều 12-11… Dự thảo mới có bố cục 7 chương với 52 điều (tăng 2 điều so với dự thảo Chính phủ trình), theo đó đã bổ sung một số nội dung cơ bản như: Đánh giá QNCN, CN và VCQP tại Điều 9; khiếu nại và giải quyết khiếu nại của QNCN, CN và VCQP (Điều 11); hợp tác quốc tế trong xây dựng QNCN, CN VCQP (Điều 12) và về khen thưởng (Điều 48).

Dự thảo Luật mới đã làm rõ các khái niệm QNCN, CNQP và VCQP tại Điều 2 (Giải thích từ ngữ) và làm rõ vị trí, chức năng của QNCN, CN và VCQP tại 3 khoản của Điều 3, làm căn cứ để quy định nguyên tắc quản lý, sử dụng, bố trí, tuyển chọn, tuyển dụng… và thực hiện chế độ, chính sách phù hợp đối với từng đối tượng tại các điều khoản của dự thảo Luật. Để khắc phục những bất cập chồng chéo trong bố trí sử dụng các đối tượng này trong thực tiễn, tại khoản 1 Điều 5 dự thảo Luật đã quy định: “Mỗi vị trí chức danh trong tổ chức biên chế của Quân đội nhân dân chỉ quy định một đối tượng sử dụng là QNCN hoặc CN hoặc VCQP”. Tại Điều 6 đã quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ chung, đồng thời quy định nghĩa vụ cụ thể của QNCN, CN, VCQP cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đối tượng. Tại Điều 14 quy định cụ thể về tuyển chọn, tuyển dụng QNCN và Điều 28 quy định về tuyển chọn, tuyển dụng CN và VCQP. Việc xếp loại, nâng loại, chuyển vị trí chức danh QNCN được quy định tại Điều 15; việc xếp loại, nâng loại, nâng bậc CNQP được quy định tại Điều 29 và chức danh nghề nghiệp, bổ nhiệm, thay đổi chức danh nghề nghiệp của VCQP được quy định tại Điều 30. Về cấp bậc quân hàm của QNCN tại Điều 16 quy định cụ thể cấp bậc quân hàm của QNCN được xác định tương ứng với trình độ chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ và mức lương gồm có từ Thiếu úy QNCN đến Thượng tá QNCN.

Về thời hạn và hạn tuổi phục vụ (Điều 17) quy định, thời hạn phục vụ tại ngũ của QNCN là phục vụ có thời hạn ít nhất 6 năm kể từ ngày quyết định chuyển thành QNCN hoặc phục vụ hết hạn tuổi theo cấp bậc quân hàm theo quy định tại khoản 2 Điều này (cụ thể: Cấp úy QNCN: Nam, nữ: 52 tuổi; Thiếu tá, Trung tá QNCN: Nam, nữ: 54 tuổi và Thượng tá QNCN: Nam 56 tuổi, nữ 55 tuổi). Khi QNCN có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ cao, có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, sức khỏe và tự nguyện, nếu quân đội có nhu cầu thì được xem xét kéo dài tuổi phục vụ tại ngũ không quá 5 năm. Đối với chiến đấu viên thực hiện nhiệm vụ khi đủ 40 tuổi thì được ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng và được bố trí đảm nhiệm chức danh khác phù hợp với yêu cầu của quân đội hoặc được chuyển ngành. Trường hợp quân đội không thể tiếp tục bố trí sử dụng và không thể chuyển ngành được nếu có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội, trong đó có đủ 15 năm là chiến đấu viên thì được nghỉ hưu. Danh mục chức danh chiến đấu viên do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.

Điều 36 dự thảo Luật quy định, tiền lương của QNCN, CN và VCQP được xác định theo trình độ đào tạo, chức danh, vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp phù hợp với tính chất, nhiệm vụ của quân đội là ngành lao động đặc biệt. QNCN, CN và VCQP được hưởng phụ cấp thâm niên được tính theo mức lương hiện hưởng và thời gian phục vụ trong lực lượng thường trực của quân đội theo quy định của pháp luật; phụ cấp, trợ cấp như đối với cán bộ, công chức, viên chức có cùng điều kiện làm việc; phụ cấp, trợ cấp phù hợp với tính chất hoạt động đặc thù quân sự và được chính sách ưu tiên hỗ trợ về nhà ở xã hội; thuê nhà ở công vụ theo quy định của pháp luật. Riêng QNCN còn được hưởng phụ cấp nhà ở.

Về chế độ bảo hiểm y tế, đối với thân nhân của QNCN, CN và VCQP phục vụ trong quân đội, theo Điều 39 của dự thảo Luật thì bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ hoặc bố, mẹ chồng; vợ hoặc chồng; người nuôi dưỡng hợp pháp của vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp dưới 18 tuổi của QNCN được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; thân nhân của CN, VCQP không có chế độ bảo hiểm y tế thì được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của Chính phủ.

Thạc sĩ ĐOÀN PHÚC THỊNH ( Phó vụ trưởng Vụ Quốc phòng và an ninh, Văn phòng Quốc hội)