Từ mới và từ cũ. Thập niên đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba đã sinh ra rất nhiều từ thời thượng mà trong đó, có nhiều từ là kết quả trực tiếp của các đổi mới không ngừng trong công nghệ điều khiển của kỷ nguyên Internet.

Nhà báo Eric Walberg trên website Global Rearch đã bỏ không ít công sức ra để thống kê lại những từ mới đã trở nên thông dụng trong thế giới hôm nay. Trước hết, đó là "dotcom revolution" (cách mạng Internet). Cách gọi này xuất phát từ chỗ trên mạng Internet, địa chỉ các trang web bao giờ cũng có từ viết tắt "com" để chỉ tính thương mại trong việc sử dụng trang web đó. Đây đã là một thuật ngữ, còn bản thân từ "Internet" thì đã bị coi là thuộc về "thời kỳ đồ đá" của công nghệ mạng trong thế kỷ XX. Một từ mới nữa cũng đã trở nên cực kỳ thông dụng là "Wikipedia", xuất hiện năm 2001. "Wiki" trong tiếng Hawaii có nghĩa là nhanh. Từ này được sử dụng để chỉ bộ từ điển tập thể đầu tiên được xây dựng theo cơ chế online bởi hàng triệu người sử dụng nó. Hiện nay đã có Wikpedia ở hàng chục thứ ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt. Và càng ngày càng có nhiều quy định đối với việc nạp thêm tư liệu vào nó, đặc biệt là trong những gì liên quan tới các nhân vật đang còn sống. Từ mới "blogging" xuất hiện năm 2002. Từ này liên quan tới sự bùng nổ các trang web cá nhân trên mạng Internet và đòi hỏi càng ngày càng nhiều cơ chế quản lý để chống lại những hiện tượng lợi bất cập hại. "Photoshopping" xuất hiện năm 2006 - từ này được dùng để chỉ công nghệ mới xuất hiện và đã trở nên rất phổ biến để chỉnh sửa các hình ảnh điện tử hoặc làm ảnh ghép theo sở thích cá nhân. Từ mới "witter" xuất hiện năm 2006. Chương trình cơ động này giúp cho bất cứ ai trong chúng ta liên hệ với bất cứ một đối tượng nào ở bất kỳ đâu, miễn là họ đều đang nối mạng. Có lẽ cũng không nên quên cú lừa thế kỷ "Vấn đề năm 2000" (Y2K). Thuật ngữ này đã trở nên thông dụng vì những mối lo ngại về việc thế giới ảo sẽ bị sụp đổ khi tiếng chuông gióng lên báo hiệu sự khởi đầu của năm 2000. Những từ mới trên đã được du nhập vào hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới, kể cả tiếng Arab vì toàn bộ thế giới hiện đại đều bị sức hút lại gần trật tự quốc tế mới dựa trên Anh ngữ. Tuy nhiên, đó không hoàn toàn là những trò chơi vô hại. Trong thế giới của chính trị, chúng đã trở thành những công cụ để nhiều thế lực gây nên những cuộc đảo lộn chính quyền mau lẹ không hề liên quan gì tới tự do ngôn luận. Thí dụ, tại Moldova chính vì cái gọi là "cách mạng witter" mà đã diễn ra một cuộc đổi ngôi giữa các thế lực chính trị chủ đạo ở đây. Tổng thống Iran, Mahmud Ahmedinejad, cũng vì lý do tương tự mà suýt nữa đã bị lật đổ bởi phe đối lập. Các mạng xã hội đó đã trở thành nơi tập trung lực lượng mau lẹ của các phần tử đối lập trong những hoạt động lật đổ. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều chính phủ trên thế giới đang rất nỗ lực để những thay đổi mới trong lĩnh vực công nghệ viễn thông không thể bị lợi dụng vào các mục đích chính trị phi pháp. Rất cần phải lưu ý rằng, đa phần những công lực của mạng Internet hiện nay đang nằm trong tay các ông chủ mang dòng máu Do Thái (Google, Yahoo, Facebook) và nếu tính tới mức độ tổ chức cao và ảnh hưởng lớn của các thế lực lobby Do Thái trong hành lang chính trường Mỹ và ở châu Âu, cũng như khả năng theo dõi, nghe trộm và lưu trữ một số lượng khổng lồ những tư liệu cá nhân và khả năng kiểm soát sự tiếp cận với những thông tin nhất định, thì chắc chắn ta sẽ nhận thức được nguy cơ phải đối mặt với bóng ma của sự kiểm soát thể xác và tinh thần của chúng ta, giống như những gì mà nhà văn Anh George Orwell đã mô tả. Cái thế giới hứa hẹn sẽ mang lại nhiều lợi nhuận có tên Google và những gì tương tự như thế chính là những phúc lộc mà chủ nhân của chúng là những người theo chủ nghĩa Sion. Một trong những tác giả sáng lập ra mạng Google, tỉ phú Sergei Brin đang giúp đỡ rất nhiều về tài chính cho hội Hebrew Immigrant Aid Society mà cái hội này, như điều tra cho thấy, lại giúp đỡ những người Do Thái ở khắp thế giới muốn về định cư ở Israel. Các blog và trang web trên mạng YouTube, nếu bị coi là có hại, lập tức sẽ bị biến mất mà không có một lý do nào giải thích cả. Những tài liệu chống lại chủ nghĩa Sion hay có tính phê phán đối với người Do Thái bị phong tỏa vì lý do "tuyên truyền hằn thù", trong khi những ý kiến chống lại người Arab và đạo Hồi lại được tụng ca như biểu hiện của "tự do ngôn luận". Vậy lẽ công bằng ở đâu trên mạng Internet? Trong thời điểm hiện tại, nhiều từ đã từng tồn tại ở những thập niên trước lại có được các ý nghĩa mới và trở thành "những từ thông dụng". Thí dụ: "Taliban", "Al-Qaeda", "Jihad", "Caliphate"… Tất cả những từ này đều từ tiếng Arab cổ kính và đấy chính là sự mâu thuẫn của thời đương đại. Bởi lẽ mọi việc đều tạo nên phản lực nên cuộc xâm lăng của thế giới phương Tây chống lại thế giới Hồi giáo, bắt đầu sau những thảm kịch của ngày 11/9/2001, đã dẫn tới việc hiểu hơn về văn hóa Hồi giáo Arab và thậm chí cả tới ý thức về chuyện nhiều tiêu chí trong lối sống phương Tây - từ áo choàng lụa tới bánh ngọt trong đám cưới hay điếu ống Hookah - đều xuất phát từ các đối thủ của họ trong quá trình đụng độ giữa các nền văn minh. Cũng không nên quên để ý rằng, thế giới Do Thái đã nhận được ngày càng nhiều sự ủng hộ công khai nhưng đồng thời lại trở thành đối tượng bị phê phán trong thập niên vừa qua nên những từ và liên từ "Phủ nhận Holocaust" (Holocaust denial), "Phản Sion" (anti-Zianism), Jerusalem, Gaza… không bao giờ rời lâu khỏi các tít tin bài trên các trang báo. Từ "người tị nạn" (Refugees) trở nên thông dụng từ năm 2005. Số lượng người tị nạn đang không ngừng tăng lên, không chỉ vì những cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành hay những xung đột vũ trang cục bộ ở nhiều nơi trên thế giới mà hiện tượng này còn diễn ra ở ngay trên lãnh thổ Mỹ sau khi thành phố New Orleans bị tàn phá một cách đầy tai tiếng chỉ vì cơn bão khủng khiếp Katrina. Mức độ tàn phá nặng nề ở đây, như chính hệ thống tư pháp quốc gia công nhận, đã xảy ra là bởi sự thiếu chuyên nghiệp và thiếu hiểu biết của chính quyền Mỹ, cũng như vì hệ thống hạ tầng cơ sở lỗi thời của nước Mỹ, dù ngân sách quân sự của nước này đã tăng lên tới những đỉnh cao khó tả. Những từ "vốn phát sinh" (derivatives) và "tín dụng thứ cấp' (subprime lending) trở nên thông dụng từ năm 2007 để chỉ những mô hình tài chính đặc biệt nhiều tham vọng được nghĩ ra và áp dụng bởi những kẻ hái ra bạc tỉ USD nhờ chúng nhưng lại không ai cho ngoài bản thân mình được hưởng lợi. Từ "trợ giúp của nhà nước" (Bailout) được sử dụng thường xuyên từ năm 2008 - đó là lời nhắc nhở thường xuyên của các chính phủ phương Tây đối với các ngân hàng. Hai từ "Obama" và "Obamamania" (mê tín Obama) cũng từ năm 2008 trở nên thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng. Những từ này đã được lan truyền tới tận hang cùng ngõ kẻm trên thế giới khi một chính trị gia da màu đầu tiên đã trở thành Tổng thống Mỹ. Tổng thống Obama đang phải đấu tranh với những tham vọng đế chế Mỹ - và cái từ "đế chế Mỹ" này cũng đã trở thành thời thượng lúc ẩn lúc hiện trong lúc nước Mỹ đang bị suy thoái toàn diện, cả trong chính trị lẫn kinh tế, cả trong bảo vệ môi trường lẫn bảo vệ sức khỏe người dân… Có hai từ thời thượng thuộc hệ "danh ngôn của ông Bush" (Bushism) thường khiến người nghe phải rùng mình. Đó là từ "đợt sóng lớn" (surge, năm 2007) và "kinh sợ" (awe, 2003), được dùng để gọi chiến lược xâm lăng tại Iraq để tìm kiếm những vụ khí hủy diệt hàng loạt không hề có trong sự thật ở đó. Câu nói theo kiểu Hollywood của ông Bush "Có giỏi thì lao vào!" (Bring 'em on!) hướng tới những người nổi dậy ở Iraq đã được âm vọng bằng 500 lính Mỹ được hồi hương từ Iraq trong những bao đựng xác chết (đấy là chỉ theo con số thống kê chính thức)… Một trong những câu lỡ lời của ông Bush "quá không đánh giá đúng" (misunderestimate, năm 2002) sẽ còn được ghi nhớ lâu. Những từ như "Abu Ghraib:, "Guantanamo" và di chuyển tù nhân không cần quyết định của tòa án" (rendition) - đều là di sản từ thời cầm quyền của ông Bush, là minh chứng cho một sự kiện đáng xấu hổ: đế quốc Mỹ không chỉ quảng bá cho việc sử dụng các đòn tra tấn mà dường như còn cảm thấy khoái trí vì thế. Từ mới "công nghệ Nano" (Nanotechnology) được sử dụng ngày càng rộng rãi để nêu bật lên ý nghĩa của việc "thiểu hóa" trong công nghệ tới mức có thể tiến hành các thao tác với cả các nguyên tử. Từ này thực ra đã xuất hiện từ những năm 50 của thế kỷ trước nhưng chỉ trở nên thời thượng trong giai đoạn hiện nay. Liên từ "hậu quả của tình trạng trái đất nóng lên" (global warming consequences, năm 2004) đang được sử dụng nhiều để chỉ những cơn bão ngày một xảy ra thường xuyên hơn và những cơn sóng thần. Những từ này gần như tràn ngập cả lĩnh vực kinh tế, nơi mà các cơn sóng thần tài chính đang đe dọa nền kinh tế thế giới nặng nề nhất ở thời điểm hiện nay, khi nó được nối mạng điện tử và gần như thoát khỏi sự kiềm tỏa của các chính phủ. Sự phá sản tài chính năm 2008 đã thể hiện điều này một cách cực kỳ rõ ràng… Theo Trần Thanh Tịnh (ANTG cuối tháng)