Không phủ nhận, việc khai thác khoáng sản của các DN hiện nay đã đóng góp cho nền kinh tế một khoản thu không nhỏ. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, việc khai thác khoáng sản của DN đang thể hiện việc thiếu trách nhiệm đối với môi trường, với cư dân nơi DN đến khai thác, dẫn đến những hệ lụy không nhỏ đối với đời sống dân cư cũng như sự xuống cấp về môi trường tại địa phương…

Noi cang giau khoang san, dan cang kho - Anh 1

Môi trường bị hủy hoại do khai thác theo kiểu tận thu khoáng sản. Ảnh: TL.

DN sẵn sàng “đánh đổi”

Đó là ý kiến đánh giá được đưa ra tại Hội thảo “Khai thác khoáng sản - Từ câu chuyện ở cộng đồng đến các vấn đề chính sách” do Liên minh Khoáng sản Việt Nam và Trung tâm Con người - thiên nhiên tổ chức sáng 23/10.

Từ năm 2005, Nhà nước bắt đầu cho phép các DN tham gia vào lĩnh vực khai thác khoáng sản ở các địa phương. Việc cho phép này của cơ quan quản lý ngay lập tức có hiệu ứng tức thì. Tính đến thời điểm hiện nay, đã có hàng ngàn giấy phép được cấp cho các DN tham gia hoạt động khai thác khoáng sản tại nhiều địa phương trên cả nước. Không thể phủ nhận, những lợi ích về mặt kinh tế mà ngành khai khoáng đem lại.

Tuy nhiên, mặt trái của việc cho phép các DN tham gia khai thác khoáng sản một cách tràn lan mà không tính đến năng lực của DN đã dẫn đến sự xuống cấp nghiêm trọng về môi trường cũng như ảnh hưởng đến đời sống dân sinh tại nhiều địa phương.

Theo PGS.TS Phạm Bích San - Viện trưởng Viện Nghiên cứu xã hội và các vấn đề phát triển, đối với mỗi DN, mục tiêu đầu tiên khi tham gia bất cứ lĩnh vực nào chính là lợi nhuận kinh tế. Và nếu không có sự quản lý, giám sát thật chặt chẽ của chính quyền các địa phương, chắc chắn vấn đề môi trường sẽ bị DN “đánh đổi” với lợi ích của chính họ.

Khai thác khoáng sản có những tác động rất đặc thù đối với môi trường, khác với các ngành công nghiệp khác, khai thác khoáng sản có thể làm vỡ cấu trúc địa chất và cảnh quan, tạo ra các bãi thải hoặc hồ chứa lớn. Chưa kể tình trạng sạt lở bãi thải, sụt lún lòng đất, ô nhiễm bụi, nguồn nước… ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân cư tại địa phương đó.

Việc thu phí bảo vệ môi trường đối với khai khoáng đã được thực hiện hơn 10 năm qua, với mục đích gắn chặt trách nhiệm của DN đối với môi trường tại địa phương mình khai thác khoáng sản, mặt khác, đây cũng là một nguồn thu nhằm cải tạo, đảm bảo môi trường sống cho dân cư tại địa phương đó. Tuy nhiên, thời gian qua đã xảy ra nhiều vấn đề đối với việc thu phí dẫn đến những xung đột lớn giữa DN và người dân địa phương.

Khi địa phương thiếu sự minh bạch

Theo phản ảnh của ông Vũ Đăng Khoa - Chủ tịch UBND Thị trấn Trại Cau, Thái Nguyên, kể từ thời điểm địa phương mở rộng cửa cho các DN vào khai khoáng, đến thời điểm này đã có rất nhiều công ty khai thác khoáng sản hoạt động trên địa bàn thị trấn. Trong đó, ó Mỏ sắt Trại Cau - Chi nhánh Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên, Công ty Cổ phần luyện kim đen Thái Nguyên, Công ty cổ phần Nhẫn, Công ty TNHH Hải Thành và Công ty cổ phần Kim Sơn…

Ông Khoa cho biết, hoạt động của các công ty này đã gây ra nhiều phiền toái cho người dân địa phương khiến cho người dân cứ nhìn thấy có DN đến khai thác là… sợ.

“Đáng lẽ ra, địa phương nào giàu tài nguyên khoáng sản, thì đời sống của người dân địa phương đó phải được sung túc. Song nghịch lý là, hoạt động của các DN khai khoáng đang khiến đời sống cư dân trở nên tệ hơn vì ô nhiễm bụi, không khí, vì tiếng ồn…” – ông Khoa nêu thực trạng.

Đáng nói là, vấn đề thu phí đối với các DN cũng không được thực hiện một cách đầy đủ. Theo ông Khoa, các dự án đều có phương án trích 1-2% doanh thu để xây dựng hạ tầng cho địa phương nơi thực hiện khai thác, nhưng thực tế DN ở Trại Cau vẫn chưa thực hiện kế hoạch trên. Thậm chí thị trấn không được hưởng từ nguồn thuế tài nguyên.

Tuy nhiên, phản hồi lại ý kiến của ông Khoa, ông Nguyễn Văn Quảng, Bí thư Đảng ủy Mỏ sắt Trại Cau - Thái Nguyên lại cho rằng, hàng năm Công ty Mỏ sắt Trại Cau đã nộp xấp xỉ 20 tỷ đồng phí bảo vệ môi trường và thuế nộp chiếm tỷ trọng tương đương phí. Như vậy, mỗi năm Công ty đóng tổng cộng khoảng 40 tỷ đồng thuế phí.

“Và chưa một năm nào chúng tôi không nộp thuế, phí bảo vệ môi trường. DN đã hoàn thành nghĩa vụ của mình.Vậy, lý do gì mà người dân vẫn cho là DN chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế, phí?” – ông Quảng đặt câu hỏi và nêu lên đề xuất, vấn đề thu, chi thuế, phí bảo vệ môi trường cần được chính quyền địa phương minh bạch, công khai để người dân nắm rõ DN đã đóng thuế, phí đầy đủ, và nguồn thu đó đã được sử dụng đầu tư trở lại trong hoạt động môi trường ra sao. Việc này cần phải được rất công khai, rõ ràng nếu không, người dân sẽ luôn có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với các DN hoạt động khai khoáng.

Giới chuyên gia trong ngành, các nhà khoa học cho rằng, các quy định trong Luật Khai khoáng cần phải cụ thể hơn, chi tiết hơn, làm rõ vai trò của DN cũng như chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý khai thác khoáng sản hiện nay, tránh sự chồng chéo, gây hiểu nhầm, xung đột giữa DN và chính quyền, người dân địa phương đó.

Bên cạnh đó, nguồn thu phí bảo vệ môi trường cũng cần phải được công khai, minh bạch để tạo sự đồng thuận giữa người dân và DN khai khoáng. Nói một cách khác, theo PGS.TS Phạm Bích San, Luật lệ trong lĩnh vực khai khoáng cần phải hướng tới mục tiêu đảm bảo để đời sống của người dân tại địa phương có nguồn khoáng sản được sung túc đầy đủ, không thể để nghịch lý như hiện nay, địa phương nào càng giàu khoáng sản, người dân địa phương đó càng khó khăn, chật vật.

Duy Phương

_________________________________________________________