ND- Nón lá, có mặt ở khắp mọi nơi từ vùng thôn quê cho đến nơi đô thị và nó có cả trong hội hè lễ Tết của người Việt. Nón lá cùng với chiếc áo dài duyên dáng đã tạo nên nét độc đáo trong bản sắc văn hóa Việt.

Phú Mỹ (còn gọi là Kẻ Than), thuộc xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội, là một trong những ngôi làng cổ của Xứ Đoài xưa nổi tiếng với nghề làm nón lá truyền thống. Theo truyền thuyết, nghề làm nón lá do Đức thánh mẫu - Huyền Dung công chúa truyền dạy cho dân làng. Loại nón này có nguồn gốc từ chiếc nón chảo rang ngày xưa, tức là dùng một sợi móc để khâu lá cọ già tạo thành chiếc nón chảo rộng vành. Trải qua biết bao thăng trầm, chiếc nón chảo ngày xưa đã được tiến hóa dần thành chiếc nón như ngày nay. Có hai loại nón, đó là nón lá trắng và nón lá già. Một chiếc nón được hoàn thành hẳn cũng không khó khăn lắm. Nhưng nó chỉ thật sự là một sản phẩm đẹp khi có sự kết hợp giữa lòng kiên trì cộng với bàn tay khéo léo của những nghệ nhân. Nguyên liệu làm nón bao gồm: Búp lá cọ, lành hanh (cây vầu), nứa, ngoài ra còn có các phụ liệu khác như: cước dùng để khâu nón, kim, mo nang làm cứng mền nón... Hầu hết các xóm ở thôn Phú Mỹ đều làm nón như: Xóm Đầu Làng, xóm Đông, xóm Trung Lập, xóm Đình, xóm Trại, xóm Cốc, xóm Phú Thịnh... Chiếc nón ra đời phải trải qua năm giai đoạn. Trước hết là chuẩn bị lá nón: Lá cọ được phơi khô sau đó ủ sương (nước) cho ẩm để lá nở, rồi dùng giẻ ấn mạnh trên bàn là nóng. Công đoạn này sẽ làm cho lá phẳng và trắng hơn. Thứ hai là giai đoạn chuẩn bị khung vành: Lành hanh, nứa trẻ nhỏ, vót tròn rồi ướm vào khung. Thứ ba là chuẩn bị xếp lá vào khung: Lá cắt nhọn xếp thành hai lượt, ở giữa hai lượt người ta lợp một lớp mo nang. Thứ tư là khâu (đan, thắt) nón: Dùng kim và cước khâu nón. Chiếc nón có đẹp hay không cũng nằm cả trong giai đoạn này, vì mũi kim phải đều và chắc. Giai đoạn cuối: Nức nón (làm cạp) và mạng mầu (làm kín chóp nón). Trước khi dùng có thể quàng thêm một lớp dầu bóng, tra nhôi làm quai. Đối với người làm giỏi, trong một ngày có thể làm được hai đến bốn chiếc nón lá. Theo điều tra năm 2009, tổng thu nhập từ nghề nón lá ở làng Phú Mỹ lên đến gần hai tỷ đồng/năm. Hiện ở Phú Mỹ có 550/710 hộ làm nghề nón lá (chiếm 77,5%), nhưng trong mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai người làm một cách chuyên nghiệp, còn phần đông các hộ đều làm trong lúc nhàn rỗi, nên doanh thu cũng không được cao. So với trước đây, số hộ làm nón có giảm đi, với lý do là họ chuyển sang nghề tiểu thủ công nghiệp khác có mức doanh thu cao hơn, bảo đảm chất lượng cuộc sống hằng ngày. Theo ông Doãn Văn Lợi, Bi thư chi bộ thôn Phú Mỹ, thì các hộ chuyên kinh doanh nón ở đây chỉ còn có nhà anh Hà, bà Trĩ và chị Phiến... Song nghề nón truyền thống của làng Phú Mỹ đã và đang du nhập sang các làng lân cận như Ngọc Than, Thạch Thán và một số làng khác, mà khởi điểm là vào những năm 1999 - 2000. Khi đó nón Phú Mỹ có nguồn xuất khẩu sang Trung Quốc với khối lượng lớn, trong khi người dân Phú Mỹ không đáp ứng đủ nhu cầu số lượng hàng xuất khẩu, nên một số hộ gia đình kinh doanh đầu tư đã truyền nghề sang các làng lân cận để tăng thêm nguồn hàng. Tuy nhiên nón lá ở các làng khác chất lượng không bằng nón lá ở thôn Phú Mỹ. Chính vì vậy giá cả thường thấp hơn khoảng từ 1.000 đến 1.500 đồng/chiếc. Hiện tại ở thôn Ngọc Than số hộ gia đình làm nghề nón chiếm khoảng 50% số hộ làm nón ở thôn Phú Mỹ, nhưng thu nhập chỉ bằng 40% ở Phú Mỹ. Lý do là ở Ngọc Than chưa có nhiều người làm được nón có chất lượng cao. Tuy vậy nghề nón lá ở thôn Ngọc Than đang có xu hướng phát triển, và ngày càng tăng lên cả về khối lượng và chất lượng. Hằng năm cứ vào dịp Đám làng tháng 11 âm lich, nhân dân làng Phú Mỹ lại tổ chức lễ hội và thi đan nón. Không phân biệt độ tuổi, tất cả mọi người đều có thể tham dự. Điều này đã phát huy tinh thần nghề nón truyền thống của người dân nơi đây. Nguồn tiêu thụ để xuất khẩu chính là điều thuận lợi. Nếu có nhu cầu lớn sẽ càng phát triển hơn, không chỉ cho Phú Mỹ, mà còn cho cả các làng Ngọc Than, Thạch Thán và một số làng khác... Nhưng riêng với làng Phú Mỹ hiện nay có lẽ là một nguy cơ, bởi nghề làm nón đang có xu hướng dừng lại và giảm dần trong những năm tới. Trong khi nghề nón của các làng khác thì ngày càng phát triển. Khi chuyển sang làm các nghề phụ khác, thu nhập của người dân Phú Mỹ tuy có cao hơn, nhưng tương lai nghề nón truyền thống của làng Phú Mỹ sẽ ra sao? Liệu đó có phải là một điều đáng tiếc nếu nghề truyền thống của làng đang có nguy cơ bị thất thoát? Hy vọng nhân dân làng Phú Mỹ sẽ giữ được ngành nghề truyền thống của mình, bởi dẫu sao đó vẫn là một nét đặc trưng mang đậm bản sắc văn hóa cũng như tinh thần nhân văn của người Việt, đất Việt nói chung và của người dân Phú Mỹ nói riêng.