(Tin tức thời sự) - Chất lượng người lao động là một nguyên nhân lớn dẫn đến thất nghiệp khi người lao động không đáp ứng được yêu cầu hiện nay.

Giáo dục VN vượt Anh, Mỹ: Bóc mẽ "gà nòi đi thi" Giáo dục VN vượt Anh, Mỹ: Có gì mà đáng tự hào?

Những người bằng cấp cao không chấp nhận các công việc phổ thông

PV:- Trong bản tin cập nhật thị trường lao động quý I/2015 của Viện khoa học lao động và xã hội vừa được công bố, có chỉ rõ, trong 3 tháng đầu năm, cả nước có hơn 1,1 triệu người thất nghiệp, tăng 114.000 người so với cùng kỳ năm 2014. Thế nhưng, con số đáng quan tâm đó là, tính theo trình độ chuyên môn, tỷ lệ thất nghiệp cao nhất nằm ở nhóm có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp và cao đẳng nghề; tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất nằm ở nhóm không có bằng cấp, chứng chỉ. Từ góc độ cơ quan nghiên cứu, ông có thể chỉ rõ nguyên nhân vì sao tỷ lệ thất nghiệp của đội ngũ tốt nghiệp Cao đẳng nghiệp, Cao đẳng nghề lại cao hơn đội ngũ tốt nghiệp ĐH?

Hơn nữa, chúng ta phải giải thích ra sao, khi không cần học thì tỷ lệ thất nghiệp lại không cao bằng đội ngũ có bằng cấp?

Ông Nguyễn Cảnh Bình: - Để đánh giá chính xác thì cần thêm số liệu chi tiết hơn bởi với số liệu khảo sát này cũng khó có thể đưa ra câu trả lời đúng được bởi có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này: Một là, chất lượng của nền kinh tế và các doanh nghiệp; Hai là, chất lượng người lao động; Ba là, khả năng chấp nhận của người lao động đối với nhu cầu công việc hiện nay.

Nên thực trạng hiện nay là tổng hòa và kết quả của các nguyên nhân này chứ không vì một nguyên nhân riêng biệt nào đó.

Ví dụ như cấu trúc của nền kinh tế và các doanh nghiệp thấp nên không có nhu cầu sử dụng lao động có trí tuệ và học vấn cao. Hay như mức đầu tư cho xây dựng, cầu đường rất lớn nên các doanh nghiệp trong lĩnh vực này phát triển mạnh hơn, cần nhiều lao động hơn, cần nhiều công nhân hơn. Còn các ngành đòi hỏi sự sáng tạo, chất xám ít phát triển ở Việt Nam nên không cần nhiều lao động.

Chất lượng người lao động cũng là một nguyên nhân lớn khi người lao động không đáp ứng được yêu cầu hiện nay. Nhưng cũng là câu chuyện hai chiều, cả từ phía người lao động lẫn người sử dụng lao động.

Ví dụ như công ty chúng tôi muốn tuyển dụng thêm biên tập viên, chuyên viên dự án nhưng khó tìm được người vì nhiều ứng viên không đáp ứng được, và đều phải đào tạo lại. Nhưng chúng tôi cũng rất thiếu hụt đội ngũ quản lý có năng lực, có khả năng phát triển công ty và có khả năng sử dụng, quản lý nhiều lao động hơn.

Nếu chúng tôi có đội ngũ quản lý giỏi hơn, hẳn là sẽ mở rộng và phát triển công ty nhanh hơn và sẽ thu hút, tuyển dụng nhiều lao động.

"Ông bà cử" thất nghiệp nhiều hơn: Điều dễ hiểu

Cuối cùng là khả năng chấp nhận công việc của người lao động. Con người thường muốn tìm kiếm và chấp nhận những công việc với mức lương, môi trường làm việc như họ mong muốn và nghĩ mình đáng được hưởng, nhưng có thể nhiều khi quá mức họ đang có. Với người lao động có học hành, bằng cấp, họ sẽ càng khó chấp nhận các công việc ngang bằng hoặc thấp hơn mức họ kỳ vọng như với những lao động phổ thông.

Nhưng quả thực tôi thấy các doanh nghiệp mà tôi quen biết đều vẫn có nhu cầu tuyển thêm người nhưng rồi vẫn không tìm được người phù hợp. Vẫn nhiều người thất nghiệp nhưng cũng vẫn nhiều vị trí tìm mãi không có người làm.

PV:- Tất cả các con số đều minh chứng cho việc càng học lên bằng cấp cao thì tỷ lệ thất nghiệp lại càng lớn, theo ông, thực trạng này bình thường hay bất thường? Vì sao ạ? Để giải quyết được thực trạng này thì chúng ta phải nhìn nhận và đưa ra những giải pháp cụ thể ra sao?

Ông Nguyễn Cảnh Bình:- Có câu chuyện có thật như thế này. Tôi từng biết vài bạn trẻ ở Hà Nội, tốt nghiệp đại học xong thì không xin được việc, hoặc đúng hơn là muốn một thứ công việc tốt hơn khả năng của họ và không chịu làm những việc họ nghĩ là dưới kỳ vọng, nên loay hoay một thời gian quyết định xin tiền cha mẹ đi học thạc sĩ. Rồi khi tốt nghiệp xong, lại vẫn không tìm được công việc ưng ý, rồi lại quyết định đi học tiến sĩ.

Và rồi khi là tiến sĩ thì cơ hội tìm việc làm càng trở nên xa vời và khó khăn hơn nhiều. Chuyện này không chỉ ở Việt Nam mà cả ở các nước khác. Nên việc này cũng là bình thường thôi, song nếu tỷ lệ quá cao sẽ là bất bình thường, nhưng rồi con người và thị trường việc làm sẽ phải tự điều chỉnh thôi.

Tôi không nghĩ rằng có thể giải quyết triệt để được vấn đề này đâu. Tất yếu nó sẽ vẫn tồn tại thôi, và rồi sẽ tự điều chỉnh, song nhìn chung cần có nhiều biện pháp và cần được thực thi từ nhiều phía.