Trang 1 / 2

Xu hướng đổ bộ vào Việt Nam của hàng ngoại đang khiến các doanh nghiệp gỗ lo lắng. Bà Ngô Thị Hồng Thu, Phó Tổng Giám đốc Công ty Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành, nhận định, hiện nay thị trường đồ gỗ Việt Nam chia làm 3 cấp là thấp, trung và cao. Trong đó, phân khúc cao cấp có tới 60-80% là hàng ngoại nhập; phân khúc trung cấp có 40% còn thấp cấp là 20%. Theo bà ước tính, đồ gỗ trong nước chỉ chiếm khoảng 40% toàn thị trường với một số thương hiệu như Nhà Xinh, Trường Thành, Đức Thành, Hoàng Anh Gia Lai, Phố Xinh... Khó nuốt Trong 500 doanh nghiệp sản xuất gỗ lớn của cả nước, hầu hết đều chú trọng xuất khẩu, ông Nguyễn Bá Tuấn, Giám đốc Công ty Thủ công mỹ nghệ Gỗ Liên Minh (TP.HCM), cho biết. Về nhận định trên, ông Trần Văn Trí, Tổng Giám đốc Công ty Hợp tác Kinh tế và Xuất nhập khẩu Savimex (TP.HCM), giải thích, thị trường đồ gỗ bán lẻ trong nước không thu hút doanh nghiệp do lợi nhuận không cao, thu hồi vốn lâu, giá lại cao nên khó cạnh tranh với sản phẩm giá rẻ của Trung Quốc. Doanh số hằng năm của Savimex tại thị trường trong nước chỉ chiếm 10% tổng doanh số Công ty. Bên cạnh đó, theo bà Thu, Công ty Trường Thành, quy mô của thị trường còn nhỏ và mức tăng trưởng hằng năm chỉ khoảng 15%. Do đó, nếu doanh nghiệp quay về thị trường nội địa quá nhiều sẽ dẫn đến cạnh tranh gia tăng. Cũng theo bà, các doanh nghiệp nên tập trung 50-70% cho xuất khẩu và 30-50% cho nội địa để đề phòng một số rủi ro. Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp không thể cạnh tranh tại thị trường trong nước thì tăng cường xuất khẩu và ngược lại. Nhưng nếu muốn trở lại sân nội, các doanh nghiệp phải đối mặt với khó khăn về sản xuất, mẫu mã, kênh phân phối... Đầu tiên là mẫu mã. Các sản phẩm tiêu thụ trong nước có đòi hỏi cao hơn so với sản phẩm xuất khẩu. Cùng một mẫu mã, có thể xuất khẩu thành nhiều đợt nhưng nếu đem bán ở trong nước, chỉ có thể ra sản phẩm 1 lần với số lượng ít. Nguyên nhân là đối với hàng xuất khẩu, chỉ cần nhà nhập khẩu đồng ý thì có thể xuất nhiều lần với số lượng lớn, nhu cầu tiêu thụ lại nhiều. Còn đối với thị trường trong nước, do quy mô nhỏ nên mỗi năm phải có ít nhất 50 mẫu mới để khách hàng chọn, nếu không họ sẽ tưởng là sản phẩm cũ. Sản xuất cũng là vấn đề nan giải. Doanh nghiệp lớn thường sản xuất với công suất lớn nên khi dùng dây chuyền đó để sản xuất trong nước với số lượng ít thì phải ngừng nhiều máy. Thị trường nội địa phù hợp hơn với doanh nghiệp có xưởng nhỏ, có thể sản xuất thủ công hoặc máy móc công suất nhỏ. Khó khăn tiếp theo là địa điểm trưng bày và bán hàng. Mặt bằng lớn thì chỉ có ở những vùng ngoại thành, rất khó đầu tư. Một số mặt bằng trung bình ở đô thị lại có giá quá cao.