TS Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

(DĐDN) – Ông Vũ Tiến Lộc – người có công trong việc đề xuất Ngày doanh nhân Việt Nam (2004), Nghị quyết của Đảng về doanh nhân (2011), đưa hai chữ doanh nhân vào Hiến pháp (2013)… – cũng là người rất trăn trở về câu chuyện khởi nghiệp ở Việt Nam.

– Hình như có quá nhiều khái niệm về khởi nghiệp: khởi sự doanh nghiệp, lập nghiệp, hay “start – up” được nhắc đến rất nhiều thời gian gần đây, thưa ông?

Nhiều người cứ muốn gán khái niệm “khởi nghiệp” trong tiếng Việt với “start-up” trong tiếng Anh. Thật ra, khái niệm “khởi nghiệp” trong tiếng Việt rộng hơn nhiều so với “start-up” trong tiếng Anh (tạm hiểu là khởi nghiệp trên cơ sở sáng tạo/đột phá). “Start-up” chỉ là một loại hình khởi nghiệp. Do vậy, “khởi nghiệp” trong tiếng Việt gần với khái niệm “start” hơn là khái niệm “start-up”. Việc dùng khái niệm “khởi nghiệp”-“start” rộng như vậy với Việt Nam có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Vì, khác với những nước đã có hàng trăm năm phát triển kinh tế thị trường, ở nước ta cần thúc đẩy cả tinh thần khởi nghiệp, tinh thần kinh doanh và thành lập doanh nghiệp nói chung (start/entrepreneurship) và tinh thần khởi nghiệp dựa trên cơ sở sự sáng tạo (start-up)…

– Ông có nghĩ chuyện khởi nghiệp ở Việt Nam đang rất khác với thế giới?

Nói đúng hơn là chúng ta đang đi sau thế giới. Nếu như việc khởi nghiệp, thành lập DN ở các nước khác là một việc rất dễ dàng và thuận lợi thì ở Việt Nam lại đang gặp nhiều trở ngại hay thậm chí là e ngại. Vậy nên khi thế giới đang đi theo hướng khởi nghiệp dựa trên yếu tố sáng tạo và đột phá thì chúng ta vẫn phải tiếp tục xây những thứ bản lề là “khởi nghiệp” chung.

– Theo ông trở ngại, hay e ngại ở đây là gì?

E ngại bắt đầu từ chính tâm lý xã hội. Có thể chính những e ngại tâm lý đó gây ra trở ngại cho sự phát triển của kinh tế tư nhân, của doanh nhân và cả những khát vọng làm giàu chân chính. Tôi nghĩ chúng ta cứ nói về việc tạo “hệ sinh thái” để khởi nghiệp được phát triển, nhưng ngay từ hạt giống đã lỗi thì rất khó để nảy mầm.

Chúng ta đều thấy, ngay từ những sơ cấp nhất của hệ thống giáo dục Việt Nam cũng thiếu đi những “hạt giống” cho khát vọng làm giàu. Tại sao con trẻ lại chủ yếu được định hướng thành bác sĩ, kỹ sư, thành anh công an, chú bộ đội… mà không phải là một doanh nhân? Hay rộng hơn là một người làm ra tiền, tạo ra việc làm cho người khác? Hơn nữa, giáo dục Việt Nam bấy lâu nay bị cho là nặng tính hàn lâm, ít thực tiễn và thiếu tính sáng tạo, không làm cho học sinh hứng thú với việc nghĩ khác, làm khác, không định hướng học sinh làm dân mà thích làm quan, làm công chức… Đó là trở ngại lớn cho một đất nước khởi nghiệp.

Một trở ngại nữa, theo tôi đó chính là hệ thống pháp luật và chính sách của chúng ta.

Qua nhiều năm đổi mới, hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn đang thiếu đi những thiết chế pháp lý cần thiết nhằm bảo vệ vững chắc quyền và lợi ích của doanh nghiệp. Chúng ta đã có nhiều tiến bộ trong việc đưa Việt Nam trở thành nước có môi trường đầu tư thông thoáng, nhưng lại chưa có những nỗ lực tương thích bảo đảm an toàn cho kinh doanh. Những bất ổn xảy đến với doanh nghiệp tại Việt Nam thời gian qua, có phần quan trọng là do chính sách can thiệp quá sâu vào thị trường của Nhà nước gây nên. Nếu chúng ta để cho thị trường tự vận hành theo cơ chế của nó thì doanh nghiệp tư nhân chắc chắn vẫn ổn, và nếu có rủi ro thì đó là những rủi ro tiên liệu được.

– Trong một môi trường thiếu an toàn thì ai có thể dành tâm trí cho việc sáng tạo được?

Tôi nghĩ rằng chúng ta đang có quá nhiều trở ngại, và còn thiếu nhiều yếu tố nền tảng để trở thành một quốc gia khởi nghiệp.

– Nhưng nhiều người cho rằng đó là con đường ngắn nhất để chúng ta có thể phát triển một cách bền vững?

Tôi còn nghĩ đó là con đường duy nhất cho chúng ta trong những năm tới.

Kịch bản sắp tới cho nền kinh tế đã được vẽ nên khá chi tiết và đầy đủ: đa phần đều cho rằng nông nghiệp Việt Nam với quy mô hộ gia đình chắc chắn sẽ thua, thua ngay trên sân nhà. Muốn cạnh tranh được trong lĩnh vực này thì không còn cách nào khác là phải mở rộng quy mô, tạo ra chuỗi giá trị, hình thành những công ty và tập đoàn nông nghiệp. Vậy thì gần 20 triệu người nông dân sẽ đi đâu và làm gì, nếu không phải là trong các xưởng may, da giày hay chế biến nông, thủy sản…? Cứ cho đó là những công việc giá trị gia tăng thấp, nhưng chắc chắn đó là lĩnh vực thâm dụng lao động hiện thực nhất cho tới thời điểm này.

Từng vùng, từng địa phương phải có một hệ thống doanh nghiệp để nhằm thu hút những lao động này, tận dụng nhưng đồng thời là vấn đề giải quyết lao động dôi dư. Theo tôi đó là nhiệm vụ chính trị và ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn định của xã hội và do vậy, khởi nghiệp, thành lập doanh nghiệp mới hướng vào những lĩnh vực sử dụng nhiều lao động vẫn là xu thế.

– Nhưng nền giáo dục và hệ thống pháp luật không thể thay đổi trong ngày một ngày hai được, thưa ông?

Đó là điều rõ ràng, chúng ta không thể thay ngay một nền giáo dục hay một hệ thống luật pháp có nhiều ưu điểm hơn. Tôi nghĩ trước hết phải thay đổi tư duy. Tư duy có chuyển biến thì những thứ như giáo dục và luật pháp chỉ là công cụ để đẩy nhanh hiện thực hóa tư duy đó mà thôi.

Chúng ta phải xác định rằng: doanh nghiệp, kinh doanh là để tạo ra của cải vật chất cho xã hội và tạo ra việc làm cho người dân. Có doanh nghiệp, có sự kinh doanh lành mạnh thì xã hội mới phát triển được. Vì vậy nếu nói: kinh doanh và làm giàu chính đáng là thể hiện lòng yêu nước thì chắc chắn là đúng đắn, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Phải làm sao để từng công chức, từng người dân thậm chí cả những người nông dân hiểu rõ điều này và tạo mọi điều kiện để người khác khởi nghiệp, làm giàu chính đáng, và trực tiếp tham gia và quá trình làm giàu đó.

Hệ thống luật pháp – như tôi đã nói ở trên, chưa bảo đảm an toàn cho khởi nghiệp. Một sự thay đổi tổng thể, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp là điều tất yếu. Bên cạnh đó cũng cần một cơ chế thông thoáng và được khích lệ hơn để huy động các nguồn lực xã hội vào việc đầu tư mạo hiểm… Trước nay việc đầu tư mạo hiểm chủ yếu do các quỹ đầu tư nước ngoài chứ vốn nội rất ít và chỉ mang tính cá biệt. Tôi nghĩ cần sớm có cơ chế để huy động vốn vào những dự án tiềm năng khởi nghiệp sáng tạo.

Một nguồn lực nữa vô cùng quý giá mà chúng ta chưa thể khai thác được: đó chính là tinh thần dám nghĩ, dám làm và dám dấn thân. Lịch sử dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm và chưa từng chịu khuất phục trước bất cứ khó khăn cản trở nào. Phải làm sao để tinh thần đó biến thành động lực để xây dựng một đất nước khởi nghiệp đầy sáng tạo và dám chấp nhận thử thách, rủi ro. Mặc dù đã ra khỏi tình trạng nước nghèo nhưng chúng ta vẫn đang đứng trước thách thức của “bẫy thu nhập trung bình” và chúng ta vẫn đang trên ranh giới của sự “ tồn tại hay không tồn tại” của một nền kinh tế – ranh giới giữa một bên là thẳng tiến tới một nền kinh tế hùng cường và bên kia là sự trì trệ, thất bại và lệ thuộc. Tôi tin rằng, nếu 90 triệu người dân Việt Nam ai cũng hiểu lẽ đó, ai cũng phấn đấu trở thành và cổ vũ cho các chiến binh trên “mặt trận làm giàu” thì Việt Nam sẽ có một nền kinh tế phát triển bền vững và tự chủ.

– Xin cảm ơn ông!

Ai cũng phấn đấu trở thành và cổ vũ cho các chiến binh trên “mặt trận làm giàu” thì Việt Nam sẽ có một nền kinh tế phát triển bền vững và tự chủ.

Bảo Sơn thực hiện