* Khu vực ngoài nhà nước sẽ được tham gia các dự án ODA phục vụ lợi ích công. * Nợ nước ngoài của Việt Nam vẫn ở ngưỡng an toàn.

Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về hiệu quả sử dụng vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) trong thời kỳ 2006-2009. Cụ thể là mức cam kết cho giai đoạn này đạt kỷ lục trên 23,85 tỉ USD, riêng CG-2009 đạt 8,063 tỉ USD. Tuy nhiên, trong bối cảnh VN sắp trở thành quốc gia đang phát triển có mức thu nhập trung bình thì cơ cấu viện trợ cũng thay đổi, ODA không hoàn lại sẽ giảm, thay vào đó là khả năng tiếp cận các nguồn vốn kém ưu đãi hơn, điều kiện ngặt nghèo hơn. ODA không phải “thứ cho không” Cùng với việc lồng ghép các chương trình, dự án ODA vào các chương trình mục tiêu quốc gia và các định hướng ưu tiên của Chính phủ vào các lĩnh vực hạ tầng cơ sở, xóa đói giảm nghèo, mà hiệu quả sử dụng ODA đã tăng lên rõ rệt. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KHĐT), giai đoạn 2006-2009, tổng vốn ODA cam kết đạt trên 23,85 tỉ USD, trong đó đã hợp thức hóa cam kết bằng các văn kiện ký kết đạt 16,663 tỉ USD, chiếm xấp xỉ 70% tổng số vốn cam kết. Vốn ODA giải ngân đã đạt 9,814 tỉ USD, chiếm trên 41% tổng số vốn cam kết và xấp xỉ 60% tổng vốn ODA ký kết trong 3 năm này. Dự kiến, mức giải ngân của cả thời kỳ 2006-2010 sẽ đạt 12,964 tỉ USD. Theo đánh giá của 6 ngân hàng phát triển, tuy tỉ lệ giải ngân vốn ODA của VN hiện thấp hơn mức trung bình của khu vực (mức trung bình khu vực là 20%, trong khi VN năm 2008 chỉ đạt 14%), nhưng đã có tiến bộ đáng kể. ODA đã đóng góp một phần quan trọng trong tổng đầu tư toàn xã hội, chiếm khoảng 12-13% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong 5 năm 2006-2010. Bên cạnh việc đầu tư cơ sở hạ tầng KT-XH, ODA còn góp phần tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn của khu vực tư nhân, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống người dân. Tuy nhiên, vốn ODA không hoàn toàn là “thứ cho không”. Theo Bộ KHĐT, 80% vốn ODA của VN là vốn vay các nước và các định chế tài chính quốc tế được Chính phủ VN cam kết hoàn trả theo các điều kiện khá khắt khe, đặc biệt tới đây, các điều kiện vay vốn sẽ kém ưu đãi hơn vì VN đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình. Nguồn vốn ODA không hoàn lại đang có xu hướng giảm đi và ngay cả nguồn vốn này, Chính phủ cũng phải cam kết vốn đối ứng. Bộ KHĐT khuyến cáo: Việc sử dụng nguồn vốn phải luôn được cân nhắc, tính toán giữa hiệu quả - chi phí để không tạo ra gánh nặng nợ nần cho các thế hệ sau. Sẽ mở rộng diện thụ hưởng ODA Cũng theo đánh giá của nhóm các ngân hàng, chủ trì là Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) thì xét trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế hiện nay, nợ nước ngoài của VN, trong đó có nguồn vốn ODA vẫn trong ranh giới an toàn. Ví dụ, năm 2005 (năm đầu tiên VN bắt đầu trả nợ nước ngoài), tổng nợ nước ngoài của VN là 16,7 tỉ USD, chiếm 32% GDP và 51,5% tổng kim ngạch XK, trong khi giới hạn cho phép để nền kinh tế an toàn là tổng nợ trên GDP là 50-60%; so với kim ngạch XK là 150%. Dịch vụ trả nợ so với kim ngạch XK chiếm 5,4% (giới hạn an toàn là 15%) và dịch vụ trả nợ của Chính phủ so với tổng thu ngân sách nhà nước là 6,9% (giới hạn an toàn là 10%), từ đó đến nay, các mức đều nằm trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên, đáng lo ngại là tốc độ giải ngân. Như nêu trên, tỉ lệ giải ngân đạt thấp là một trong những nguyên nhân dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước. Năm 2009, ngân sách nhà nước phải chi tới trên 530.000 tỉ đồng, tăng 8,5% so với dự toán (tương đương 31,7% GDP). “Nếu tốc độ giải ngân nhanh hơn, đồng vốn được quay vòng hiệu quả, nhất là ở các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và đầu tư công, thì ngoài việc giảm thiểu các chi phí cho toàn xã hội, còn góp phần giảm gánh nặng đầu tư cho ngân sách nhà nước” - Thứ trưởng Bộ KHĐT Cao Viết Sinh - khẳng định. Bởi vậy mới đây, Bộ KHĐT được sự chấp thuận của Chính phủ đã xây dựng hệ thống các tiêu chí làm cơ sở lựa chọn các chương trình, dự án ODA đưa vào danh mục yêu cầu tài trợ. Mục đích của Chính phủ là nâng cao việc sử dụng hiệu quả và minh bạch đồng vốn ODA, tới đây sẽ xem xét mở rộng thêm diện thụ hưởng ODA đối với các thành phần kinh tế khác ngoài nhà nước. Ông Sinh cũng nhấn mạnh: “Bộ KHĐT sẽ cung cấp toàn bộ thông tin về tình hình thực hiện, chương trình, dự án ODA lên cổng th ông tin điện tử của bộ từ đầu năm 2010 để các đối tượng biết và tham gia”.