GD&TĐ - Bộ GD&ĐT vừa trình Chính phủ hệ thống GD mới và đề xuất quản lý GD nghề nghiệp. Điều này không chỉ phản ánh đúng tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT theo Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, mà còn góp phần làm cho hệ thống GD-ĐT Việt Nam tương thích với hệ thống phân loại quốc tế về GD của UNESCO.

Su can thiet cua he thong giao duc tuong thich quoc te - Anh 1

Rào cản lớn khi không tương thích quốc tế

Nhằm đáp ứng yêu cầu phân loại và đối chiếu quốc tế trong lĩnh vực GD, UNESCO đã xây dựng Bảng phân loại quốc tế về GD (International Standard Classification of Education - ISCED). Bảng phân loại này đã được thông qua tại hội nghị về GD Geneva năm 1975 và được gọi là ISCED 1976. Từ đó đến nay, UNESCO đã biên soạn và công bố 2 bản tiếp theo là ISCED 1997 và ISCED 2011.

Hệ thống GD ISCED 2011 được chia thành 9 cấp độ. Cấp độ 0 (GD mầm non), 1 (tiểu học), 2 (trung học bậc thấp - THCS), 3 (trung học bậc cao - THPT), 4 (sau trung học không phải bậc ba), 5 (GD bậc ba ngắn hạn), 6 (cử nhân hoặc tương đương), 7 (thạc sĩ hoặc tương đương); 8 (tiến sĩ hoặc tương đương). Việc đối chiếu với bảng phân loại quốc tế GD vô cùng quan trọng, do đó cần biên dịch ISCED 2011 làm tài liệu cho tất cả các cơ sở GD và phổ biến cho cộng đồng xã hội.

ISCED được thiết kế như một công cụ phục vụ cho việc thu thập, sưu tầm, đưa ra các chỉ số, thống kê GD và áp dụng trên toàn thế giới với mục đích phân loại, so sánh, phân tích dữ liệu GD. ISCED hoạt động dựa trên 3 thành tố chính: Khái niệm và định nghĩa thống nhất trên phạm vi quốc tế; Hướng dẫn sử dụng rõ ràng và cụ thể giúp mỗi quốc gia thực hiện quá trình chuyển đổi sao cho tương thích với GD thế giới; Khuyến khích quá trình ứng dụng cụ thể.

Trên 160 nước đã vận dụng ISCED 1997 và đang chuẩn bị vận dụng ISCED 2011. Những nước này đã nhận được nhiều lợi ích như: Chuẩn hóa hệ thống GD phù hợp với xu thế chung của thế giới, mở rộng quá trình chuyển đổi văn bằng, di chuyển người học và người lao động, tăng cường hợp tác quốc tế trong GD...

Hiện nay, hệ thống GD Việt Nam đã có một số so sánh, đối chiếu với các hệ thống GD khác, nhưng chưa sâu. Vì thế, các so sánh trong GD, đặc biệt là về chương trình và văn bằng của Việt Nam chưa được phản ánh đúng mức và cũng chưa đạt được sự tương thích trong quá trình chuyển đổi văn bằng trên phạm vi quốc tế.

Một số văn bằng của Việt Nam chưa đặt đúng vị trí khi xem xét công nhận tương đương ở các nước khác vì các nước sở tại không biết lấy cơ sở nào để so sánh. Thực trạng này dẫn đến những khó khăn trong quá trình di chuyển người học và di chuyển lao động.

Chuyển động từ hệ thống GD mới

Hệ thống GD mới do Bộ GD&ĐT đề xuất có kế thừa và cơ bản giữ được những điểm chính của hệ thống GD hiện tại như GD phổ thông 12 năm; GD cơ bản 9 năm, trong đó, tiểu học và THCS chỉ một luồng duy nhất; hệ thống GD nghề nghiệp vẫn như hiện nay.

Bên cạnh đó hệ thống mới có một số thay đổi đáng kể như cấp THPT có 3 luồng. GD nghề nghiệp được tách hẳn ra khỏi GD ĐH theo Luật GD nghề nghiệp, các trường ĐH trong tương lai sẽ không đào tạo trung cấp và CĐ. GD ĐH giảm thời gian học và cũng phân thành 3 hướng nghiên cứu, ứng dụng và thực hành. Bước đầu, hệ thống này đã có đối chiếu và tương thích với ISCED 2011 (Bộ GD&ĐT đã ghi vào trong hệ thống từ ISCED 0 đến ISCED 8).

Tuy nhiên, hệ thống này vẫn còn một số hạn chế. Trước hết là chưa có sự phân hóa sớm từ cấp THCS như một số nước có nền GD tiên tiến. Đây cũng chính là nguyên nhân mục tiêu 30% HS tốt nghiệp THCS vào học các cơ sở GD nghề nghiệp khó đạt được, do HS chưa nhận biết được năng lực, sở trường, xu hướng nghề nghiệp của mình nên chỉ chọn một hướng đi duy nhất là THPT.

Điều này không khéo sẽ dẫn đến tình trạng ai mong muốn con em mình được phân luồng, học các môn tự chọn ngay từ THCS thì chịu tốn kém gửi sang các nước phát triển hơn, như ý kiến mới đây của TS Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Trường ĐH FPT.

Theo hệ thống mới, trình độ trung cấp được ghi là ISCED 4 nhưng chương trình học và văn bằng có tương thích với cấp độ 4 của ISCED 2011 và trình độ CĐ có tương thích với ISCED 5 (GD bậc ba/ĐH ngắn hạn)?

Nếu tương đương thì phải đưa CĐ thuộc GD ĐH. Bởi vì UNESCO đã định nghĩa ISCED 5 là “chương trình GD ĐH ngắn, thường theo định hướng nghề nghiệp - ứng dụng và chuẩn bị để gia nhập thị trường lao động. Đây cũng là giai đoạn đầu để học tiếp các chương trình GD ĐH khác”.

Theo ISCED 2011, GD nghề nghiệp hòa lẫn, tích hợp, liên thông trong GD phổ thông và GD ĐH, chứ không tách riêng biệt như ở Việt Nam. Ngoài ra, việc phân luồng đối với THPT liệu có đạt được hiệu quả khi hệ thống trường THPT hiện nay chỉ phù hợp với định hướng chung?

Định hướng năng khiếu chỉ có ở thành phố lớn, ở các vùng khác sẽ khó thực hiện trong khi định hướng kỹ thuật/công nghệ chưa chỉ rõ sẽ học những lĩnh vực nào. Do đó, đề xuất của Bộ GD&ĐT quản lý luôn cả hệ thống GD nghề nghiệp là hoàn toàn phù hợp.

Nên dùng chung thước đo với các nước

Nhà nước nên xây dựng khung trình độ quốc gia cùng chung thước đo so với khu vực để người học dễ dàng hòa nhập với thị trường lao động quốc tế. Cần quy định phân hóa sớm ở cấp THCS, lớp 6 và 7 là “hai năm khám phá” và lớp 8 và 9 là “hai năm dự hướng”, giảm môn bắt buộc và tăng môn tự chọn ở lớp 8 và 9.

Sau mỗi giai đoạn, nhà trường cần phải trắc nghiệm giúp HS nhận biết năng lực, sở trường, xu hướng nghề nghiệp và điều kiện bản thân để phân luồng tốt sau THCS (tăng tỷ lệ HS học nghề).

Phân luồng ở THPT cần “mềm” hơn, có những trường định hướng chung, trường định hướng kỹ thuật/công nghệ hoặc năng khiếu nhưng cũng có những trường kiểu kết hợp. Chẳng hạn như ở Nhật Bản, THPT có 3 loại trường: Trường THPT dành cho những HS muốn học lên ĐH hoặc ra trường đi làm mà không có định hướng cụ thể nào;

Trường trung học chuyên nghiệp dành cho những HS có định hướng nghề nghiệp tương lai, giúp HS đi sâu vào các lĩnh vực như: Công nghiệp, nông nghiệp, kinh doanh, nghề cá, kinh tế gia đình, điều dưỡng, GD thể chất, âm nhạc, nghệ thuật, tiếng Anh...;

Trường trung học kết hợp, cung cấp những môn học và lĩnh vực đa dạng khác nhau của cả 2 loại hình trường nói trên.

Theo Nghị quyết số 29, đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở GD-ĐT và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.

Vì vậy, đổi mới quản lý nhà nước, đưa tất cả các mảng của GD&ĐT về một bộ quản lý và xây dựng hệ thống GD tương thích quốc tế sẽ thuận lợi trong công nhận văn bằng Việt Nam trên phạm vi thế giới và nền GD Việt Nam sẽ nhanh chóng hội nhập quốc tế.