Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2013/QH13 được Quốc hội thông qua vào ngày 21/11/2012.

Luật nhằm mục đích cải cách triệt để thủ tục hành chính, tăng cường đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp (DN) hoạt động theo cơ chế DN tự tính tự khai tự nộp tự chịu trách nhiệm, tăng tính chủ động cho DN, nhưng đồng thời cũng tăng các chế tài quản lý, xử phạt đối với người nộp thuế (NNT) có vi phạm. Đây cũng được coi là nguyên tắc chung của Luật quản lý Thuế mới. Luật này sửa đổi 38 vấn đề trên tổng số 12 Điều của Luật Quản lý thuế 2007.

Đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế

5 nội dung trong nhóm này chủ yếu liên quan đến nội dung sửa đổi theo yêu cầu của Nghị quyết số 57/2010/QH12 ngày 26/11/2010 của Quốc hội, Nghị quyết 25 của Chính phủ, Nghị quyết 68 của Chính phủ.

Theo đó, gỉam tần suất kê khai thuế GTGT từ 12 lần/năm xuống còn 4 lần/năm đối với người nộp thuế quy mô vừa và nhỏ: Nghị quyết 57 và 25 yêu cầu tạo thuận lợi cho NNT quy mô nhỏ và vừa được kê khai thuế GTGT 3 tháng/lần (hiện nay đang thực hiện kê khai 1 tháng/lần). Các DN nhỏ và vừa có quy mô dưới 20 tỷ đồng.

Rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục gia hạn nộp hồ sơ khai thuế từ 5 ngày làm việc xuống 3 ngày làm việc. Liên quan đến vấn đề hoàn thuế có một số nội dung sửa đổi, bổ sung như sau: Bỏ "Chứng từ nộp thuế" trong hồ sơ hoàn thuế; quy định NNT chỉ phải nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị hoàn thuế. Rút ngắn thời hạn giải quyết hoàn thuế, với trường hợp "kiểm tra trước, hoàn thuế sau" từ 60 ngày xuống còn 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ và trường hợp "hoàn thuế trước, kiểm tra sau" từ 15 ngày làm việc xuống còn 06 ngày làm việc.

Quy định cụ thể các trường hợp kiểm tra trước, hoàn thuế sau: Luật hiện hành trước khi sửa đổi phân loại hồ sơ hoàn thuế thành 2 loại: hồ sơ hoàn thuế trước kiểm tra sau và hồ sơ kiểm tra trước hoàn thuế sau. Trong thực tế áp dụng quản lý rủi ro tạo thuận lợi hoàn thuế nhanh trên cơ sở kê khai của NNT, thì các trường hợp kiểm tra trước hoàn thuế sau sẽ được giảm dần, ít hơn các trường hợp hoàn trước kiểm sau. Vì vậy, Luật sửa đổi bổ sung theo hướng quy định cụ thể các trường hợp kiểm tra trước hoàn thuế sau, tất cả trường hợp còn lại sẽ là hoàn thuế trước kiểm tra sau. Trong Điều 60 Luật sửa đổi quy định cụ thể 7 trường hợp kiểm tra trước hoàn thuế sau. Còn tất cả các trường hợp còn lại khi NNT có yêu cầu cơ quan thuế có trách nhiệm hoàn thuế trước rồi mới kiểm tra.

Kiểm tra hoàn thuế: Bổ sung quy định cơ quan thuế phải kiểm tra trong thời hạn 01 năm kể từ khi có quyết định hoàn thuế đối với 4 nhóm đối tượng có độ rủ ro cao bao gồm: cơ sở kinh doanh kê khai lỗ 2 năm liên tiếp hoặc có số lỗ vượt quá số vốn chủ sở hữu; cơ sở kinh doanh được hoàn thuế từ hoạt động bất động sản, kinh doanh thương mại dịch vụ; các cơ sở kinh doanh thay đổi trụ sở từ 2 lần trở lên trong vòng 12 tháng kể từ ngày có quyết định hoàn thuế trước, tránh trường hợp doanh nghiệp "ma" thành lập để sau khi mua vật tư, hàng hóa được hoàn thuế rồi trốn khỏi địa điểm kinh doanh; cơ sở kinh doanh có số chênh lệch bất thường giữa doanh thu tính thuế và số thuế được hoàn trong giai đoạn 12 tháng kể từ khi có quyết định hoàn thuế trước. Các trường hợp còn lại, việc kiểm tra sau hoàn thuế được thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro trong thời hạn 10 năm kể từ ngày có quyết định hoàn thuế.

Thay tờ khai quyết toán thuế trong hồ sơ đề nghị xóa nợ đối với trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản: DN tuyên bố phá sản được tòa án quyết định, trong trường hợp này yêu cầu DN nộp tờ kê khai quyết toán thuế rất khó khăn nên chỉ cần DN có quyết định tuyên bố phá sản của toàn án.

Xử lý số tiền thuế, tiền phạt nộp thừa: Thực hiện Nghị quyết 68/2010 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung thủ tục, sửa đổi, bổ sung tên thủ tục "Xử lý tiền thuế nộp thừa" thành tên "Xử lý tiền thuế, tiền phạt nộp thừa". Đồng thời sửa đổi thời hiệu xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa là 10 năm để đồng bộ với việc sửa đổi thời hiệu truy thu thu thuế tại khoản 3 Điều 110 Luật (thời hiệu truy thu là 10 năm).

Cải cách phù hợp với thông lệ quốc tế

Bổ sung nguyên tắc quản lý rủi ro trong công tác quản lý thuế, làm cơ sở áp dụng thống nhất các kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý thuế tiên tiến: Luật hiện hành chưa có quy định chung về nguyên tắc quản lý rủi ro để phân loại NNT nhằm đưa ra biện pháp quản lý chặt chẽ đối với NNT có rủi ro cao và có biện pháp ưu tiên với DN tuân thủ tốt pháp luật thuế tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân bổ nguồn lực hợp lý giữa chức năng quản lý thuế đề phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Kết quả của việc thí điểm đã được Tổng cục Thuế đánh giá cao, có cơ sở pháp lý thống nhất nguyên tắc quản lý rủi ro. Dự thảo Luật bổ sung và nguyên tắc quản lý thuế quy định nguyên tắc áp dụng quản lý rủi ro trong Luật quản lý thuế, nguyên tắc quản lý thuế đối với NNT đáp ứng mục tiêu xếp hạng ưu tiên, bổ sung khái niệm quản lý rủi ro trên cơ sở tham khảo quy định quốc tế và các tài liệu hướng dẫn quản lý rủi ro của Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế ACD và Tổ chức Hải quan quốc tế.

Cụ thể: Việc áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế bao gồm: thu thập thông tin liên quan đến NNT, xây dựng các bộ tiêu chí quản lý thuế, đánh giá việc tuân thủ pháp luật của NNT để áp dụng các biện pháp quản lý thuế. Cơ quan quản lý thuế quản lý ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin nghiệp vụ để đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của NNT, lựa chọn đối tượng kiểm tra, thanh tra thuế và hỗ trợ các bộ phận nghiệp vụ khác trong hoạt động quản lý thuế. Trong đó, việc quản lý rủi ro được định nghĩa là việc áp dụng có hệ thống các quy định pháp luật, các quy trình nghiệp vụ để đánh giá phân loại các rủi ro có thể tác động tiêu cực đến hoạt động quản lý thuế làm cơ sở để cơ quan quản lý thuế phân bổ nguồn lực hợp lý, áp dụng những biện pháp hiệu quả.

Bổ sung cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá (APA) trong chống chuyển giá ở các DN đầu tư nước ngoài: Tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các DN FDI ngày càng có cơ hội đầu tư vào Việt Nam, tuy nhiên nhiều DN nộp thuế không tương xứng với thực tế sản xuất kinh doanh, thậm chí có tình trạng khai lỗ nhiều năm nhưng vẫn tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh, nguyên nhân chính là do DN thực hiện chuyển giá. Trên thực tế, quá trình thanh tra chống chuyển giá rất phức tạp, để chứng minh được sự bất hợp lý và tìm được dữ liệu thông tin trong cả nước so với việc kiểm tra thanh tra chống chuyển giá thì việc áp dụng APA sẽ có được hiệu quả do các bên cùng hợp tác để đạt thỏa thuận chung.

Bổ sung quy định về cơ chế phân loại mã số, xác định trị giá, xác định xuất xứ hàng hóa trước khi làm thủ tục XNK. Mở rộng phạm vi khai thác, sử dụng thông tin về người nộp thuế từ nguồn nước ngoài theo các hiệp định, điều ước đã ký để phục vụ hiệu quả công tác quản lý thuế: Việc hội nhập mở cửa các nền kinh tế đã làm cho hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng và mở rộng phạm vi. Bên cạnh những kết quả đạt được, đã xuất hiện các mặt tiêu cực, hạn chế cần có các biện pháp phòng chống hiệu quả như các biện pháp dàn xếp tránh thuế, giả mạo DN lừa đảo kinh doanh…

Cơ quan thuế các nước hiện đang tăng cường trao đổi thông tin trên cơ sở điều ước quốc tế để cùng nhau đấu tranh chống gian lận thuế. Thực tế hiện nay cơ quan Thuế Việt Nam vẫn nhận được các thông tin từ phía nước ngoài, nhưng chưa có văn bản quy phạm pháp luật cho phép sử dụng các thông tin này trong việc xử lý giải quyết vấn đề nộp thuế. Vì vậy, Luật bổ sung cho phép cơ quan quản lý thuế được thu thập trao đổi sử dụng các thông tin do đối tác nước ngoài cung cấp trên cơ sở các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Cụ thể, cơ quan quản lý thuế áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để thu thập, trao đổi xử lý thông tin trong nước, ngoài nước thông tin chính thức của cơ quan quản lý thuế, cơ quan thẩm quyền nước ngoài theo các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, các văn bản ký kết giữa Việt Nam và các nước liên quan để sử dụng trong công tác quản lý thuế.

Bổ sung nghĩa vụ của người nộp thuế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao quản trị doanh nghiệp cũng như phát triển phương thức quản lý thuế điện tử: Hiện nay ngành Thuế, Hải quan đang từng ngày ứng dụng điện tử trong thủ tục thuế, đăng ký kê khai… và đang tích cực hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin để từng bước chuyển sang phương thức quản lý thuế dựa trên cơ sở dữ liệu NNT tập trung, thống nhất, tự động, tích hợp theo mục tiêu chiến lược và cải cách hiện đại hóa ngành Thuế đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt.

Quản lý thuế điện tử sẽ giúp tăng cường hiệu quả tính liêm chính, công khai, khách quan. Điều 19 Luật hiện hành quy định việc hiện đại hóa thuế áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin, khuyến khích tổ chức cá nhân giao dịch thuế điện tử, quản lý thuế điện tử.

Tuy nhiên do tính chất đặc thù phương pháp quản lý thuế điện tử phải có sự phối hợp chặt chẽ từ hai phía nên để tạo điều kiện phát triển phương pháp quản lý thuế điện tử cần thiết bổ sung quy định, nghĩa vụ, trách nhiệm của NNT trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để tham gia quản lý thuế điện tử.

Theo đó trong Luật sửa đổi bổ sung lần này quy định: Trường hợp NNT tổ chức kinh doanh trên địa bàn có cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin cần kê khai, nộp, giao dịch thuế thông qua phương thức điện tử theo quy định của pháp luật.

Nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quản lý thuế

Thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu: Nhằm hạn chế tình trạng một số DN lợi dụng chính sách ân hạn nộp thuế xuất khẩu để chây ỳ, nợ thuế; đồng thời tạo thuận lợi cho những DN thực hiện tốt pháp luật Thuế, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế điều chỉnh nội dung về thời hạn nộp thuế như sau: Thời hạn nộp thuế (không cần bảo lãnh) là 275 ngày đối với hàng hóa nhập khẩu là vật tư, nguyên liệu để sản xuất xuất khẩu trong trường hợp người nộp thuế đáp ứng các điều kiện: Có cơ sở trực tiếp sản xuất hàng xuất khẩu; Có hoạt động xuất nhập khẩu tối thiểu 02 năm tính đến ngày đăng ký tờ khai hải quan; Trong khoảng thời gian này không có hành vi gian lận thương mại, hành vi trốn thuế, không nợ tiền thuế quá hạn, tiền chậm nộp, tiền phạt; Chấp hành tốt chế độ báo cáo tài chính theo quy định của pháp; Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật. Các trường hợp còn lại phải được tổ chức tín dụng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế hoặc phải nộp thuế trước khi thông quan, giải phóng hàng.

Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt: Luật sửa đổi, bổ sung Điều 45 theo hướng tách riêng thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt do cơ quan thuế quản lý và cơ quan hải quan quản lý. Đối với các loại thuế do cơ quan hải quan quản lý ưu tiên thu trước đối với tiền thuế nợ quá hạn, tiền lãi chậm nộp trong các trường hợp đến hạn cưỡng chế nhằm giảm nợ xấu và giảm thiểu các vụ việc phải cưỡng chế thuế.

Gia hạn nộp thuế: Luật hiện hành chỉ quy định 2 trường hợp được gia hạn nộp thuế. Xuất phát từ thực tiễn thời gian vừa qua, một số DN gặp khó khăn, không nộp kịp thời số thuế cho nên Luật bổ sung việc gia hạn nộp thuế tại Khoản 1, Điều 49 đối với trường hợp: Phải ngừng hoạt động do di dời cơ sở sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, kinh doanh; Chưa được thanh toán vốn đầu tư xây dựng đã được ghi trong dự toán ngân sách nhà nước.

Bổ sung quy định nộp dần tiền thuế đối với trường hợp người nộp thuế không có khả năng nộp đủ tiền thuế một lần: Qua thực tế công tác quản lý thuế cho thấy, có nhiều trường hợp DN có số tiền nợ thuế, truy thu thuế với số tiền rất lớn dẫn đến vượt quá khả năng của DN có thể nộp một lần. Nhằm hạn chế các trường hợp bị cưỡng chế thuế, đồng thời tạo điều kiện cho DN có thể tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nên Luật bổ sung vào Điều 92 một Khoản cho phép người nộp thuế được nộp dần tiền thuế nợ trong thời hạn 12 tháng và phải nộp tiền chậm nộp là 0,05%/ngày trên số tiền được nộp dần (tương đương 1,5%/tháng, 18%/năm).

Xóa nợ tiền thuế, tiền phạt: Trong thời gian vừa qua, phạm vi xóa nợ trước đây hẹp chưa phản ánh thực tế khách quan về những trường hợp nợ xấu, khó có khả năng thu hồi nhất là các khoản nợ tồn đọng trước 1/7/2007. Đối với trường hợp nêu trên, cơ quan thuế và hải quan đã phối hợp với các cơ quan chức năng truy tìm đối tượng, áp dụng hết tất cả các biện pháp cưỡng chế trong thời gian dài nhưng không đạt kết quả, không để xác định được đối tượng để thu, do đó dẫn tới số thuế còn tồn đọng không nhỏ vì Luật hiện hành thiếu cơ chế giải quyết. Để xử lý triệt để vấn đề này, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 65, Điều 67 theo hướng cụ thể hóa thẩm quyền xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với nợ không có khả năng thu hồi sau khi đã thực hiện tất cả các biện pháp cưỡng chế và các khoản nợ này đã kéo dài trong thời hạn 10 năm...

Ngoài ra để đồng bộ với những quy định của Luật Thanh tra mới ban hành có hiệu lực thi hành từ 1/7/2011, Luật có bổ sung quy định tại Điều 2 (Điều khoản thi hành) như sau: "Các nội dung về thanh tra thuế quy định tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 khác với quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra thì thực hiện theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra."

Theo Tài Chính Điện Tử - Thu Hằng